Vietnamese subtitles

← TEDxEast - Sarah Kay - Bạn có thể sống bao nhiêu cuộc đời?

Sarah Kay, người sáng lập Dự án V.O.I.C.E, trình diễn và bàn luận về việc sống bằng cách kể chuyện và học cách ngừng vội vã.

Get Embed Code
22 Languages

Showing Revision 24 created 02/03/2017 by Trang Thu Nguyễn.

  1. Tôi ngắm Trăng. Trăng nhìn tôi.
  2. Trăng nhìn thấy người mà tôi không thấy.
  3. Chúa ban phước cho trăng,
    chúa ban phước cho tôi,
  4. và Chúa ban phước cho
    người mà tôi không thấy.
  5. Nếu tôi đến thiên đường trước bạn,
  6. Tôi sẽ đục 1 lỗ và kéo bạn qua.
  7. Và tôi sẽ viết tên bạn, lên mọi vì sao,
  8. Và cứ như thế, thế giới
  9. sẽ không còn quá xa.
  10. Người phi hành gia sẽ nghỉ ngày hôm nay.
  11. Anh ấy vừa gọi xin nghỉ ốm
  12. Anh ấy vừa tắt điện thoại, máy tính,
    máy nhắn tin, đồng hồ báo thức.
  13. Một chú mèo béo vàng đang ngon giấc
    trên sô pha nhà anh ấy,
  14. mưa đang rơi ngoài cửa sổ,
  15. và chẳng có dấu hiệu nào của hương cà phê
    trong không khí phòng bếp.
  16. Mọi người đều đang lo lắng.
  17. Những kĩ sư trên tầng 15 đã dừng việc
    với chiếc máy tiểu vi.
  18. Phòng chân không thì đang bị hở
  19. và ngay cả đứa bé mặt tàn nhang đeo kính
  20. chỉ có việc đi đổ rác,
    cũng đang lo lắng
  21. mò mẫm cái túi, làm rơi
    cả vỏ chuối và chiếc cốc giấy.
  22. Không một ai để ý.
  23. Họ quá bận bịu tính toán
    về ý nghĩa của khoảng thời gian đã mất
  24. Mỗi giây chúng ta mất bao nhiêu ngân hà.
  25. Bao lâu thì quả tên lửa tiếp
    được phóng ở 1 nơi nào đó
  26. 1 hạt electron bay khỏi
    đám mây năng lượng.
  27. Một hố đen vừa kích hoạt
  28. Một người mẹ vừa bày biện xong
    bàn ăn cho bữa tối
  29. TV đang chiếu chặng đua Law&Order.
  30. Người phi hành gia đang say ngủ.
  31. Anh ta quên tắt đồng hồ đeo tay,
  32. nó kêu tíc tắc như một nhịp đập kim loại
    trên cổ tay anh ta.
  33. Anh không nghe thấy.
  34. Anh mơ về những rặng
    san hô ngầm và đám phù du.
  35. Những ngón tay anh tìm kiếm
    cột buồm của chiếc vỏ gối
  36. Anh ấy trở mình, mở mắt
  37. Anh nghĩ những thợ lặn hẳn có được
    công việc tuyệt vời nhất trên đời
  38. Được lướt đi trong bao nhiêu làn nước!
  39. (vỗ tay)
  40. Cám ơn.
  41. Khi tôi còn nhỏ, tôi không tài nào
    hiểu được khái niệm
  42. rằng bạn chỉ sống có một cuộc sống.
  43. Tôi không nói đến phép ẩn dụ.
  44. Ý tôi là, tôi thật sự đã nghĩ rằng
    tôi sẽ làm được tất cả
  45. những gì có thể làm
  46. và trở thành mọi thứ trên đời.
  47. Chỉ là vấn đề về thời gian thôi.
  48. Không có giới hạn tuổi tác, giới tính,
  49. hoặc giống nòi,
    hoặc khoảng thời gian thích hợp.
  50. Tôi đã chắc chắn rằng
    tôi sẽ được trải nghiệm
  51. cảm giác của một thủ lĩnh của
    phong trào đấu tranh vì nhân quyền
  52. hay 1 cậu bé 10 tuổi sống ở
    trang trại trong thời Cơn Bão Đen,

  53. hoặc một hoàng đế Triều Đường
    ở Trung Hoa.
  54. Mẹ tôi kể rằng khi mọi người hỏi tôi
  55. muốn làm gì khi lớn, tôi luôn trả lời là
    làm công chúa, vũ công, phi hành gia.
  56. Và điều mẹ tôi không hiểu là
    tôi không cố bịa ra
  57. một nghề cao siêu và phức tạp.
  58. Tôi chỉ đang liệt kê những
    thứ tôi muốn làm:
  59. Một công chúa, một vũ công ba lê,
    và một nhà du hành.
  60. Và tôi chắc chắn là cái danh sách đó còn
    có thể kéo dài.
  61. Tôi thường bị ngắt lời.
  62. Tôi chả bao giờ nghĩ rằng liệu
    tôi có định làm gì đó không,
  63. điều tôi băn khoăn nhiều hơn
    là khi nào thực hiện.
  64. Và tôi chắc rằng nếu
    tôi dự định làm mọi thứ,
  65. thì tôi phải hành động thật nhanh chóng,
  66. vì có rất nhiều thứ tôi cần phải làm.
  67. Vì thế cuộc sống của tôi lúc nào
    cũng vội vã.
  68. Tôi luôn sợ mình sẽ bị tuột lại phía sau.
  69. Và khi tôi lớn lên tại New york,
    theo như tôi biết,
  70. vội vã là chuyện bình thường.
  71. Nhưng từ lúc đó,
    tôi chìm trong sự nhận thức,
  72. rằng tôi không thể sống nhiều hơn
    một cuộc đời.
  73. Tôi chỉ biết cảm giác
    của 1 cô bé thiếu niên
  74. ở thành phố New york,
  75. không phải một chàng trai
    ở New Zealand,
  76. càng không phải
    một nữ hoàng trong buổi dạ hội ở Kansas.
  77. Tôi chỉ có thể nhìn qua lăng kính của mình
    và khi đó
  78. tôi bị ám ảnh bởi những câu chuyện,
  79. bởi vì qua đó mà tôi có thể nhìn
  80. qua lăng kính của một người khác
    dù có sơ sài hay chưa hoàn hảo.
  81. Và tôi bắt đầu khao khát được nghe kể
    về trải nghiệm của mọi người
  82. bởi tôi rất ghen tị vì có rất nhiều
    hoàn cảnh sống
  83. mà tôi sẽ không bao giờ trải qua,
    và tôi muốn nghe
  84. về tất cả những gì mà mình đã bỏ lỡ.
  85. Và bằng tính chất bắc cầu, tôi nhận ra
  86. rằng có nhiều người sẽ không bao giờ
    biết được
  87. cuộc sống của một cô bé thiếu niên ở
    New York là như thế nào.
  88. Nghĩa là họ không thể biết
  89. cảm giác đi tàu điện ngầm sau nụ hôn đầu
    ra sao,
  90. hay tuyết rơi mùa đông tĩnh lặng thế nào,
  91. và tôi muốn họ biết, tôi muốn kể cho họ
  92. điều này trở thành tâm điểm
    nỗi ám ảnh trong tôi.
  93. Tôi bận rộn với việc kể chuyện,
    chia sẻ, và thu thập chúng.
  94. Và tới gần đây tôi mới nhận ra
  95. tôi không thể lúc nào cũng
    hối thúc thơ ca.
  96. Vào tháng Tư -Tháng thơ ca quốc gia,
    có một thử thách
  97. mà rất nhiều nhà thơ
    từ cộng đồng thi ca tham gia,
  98. và nó này được
    gọi là Thử thách 30/30.
  99. Ý tưởng là bạn sẽ viết một bài thơ mới
  100. mỗi ngày trong suốt tháng Tư.
  101. Năm ngoái tôi đã tham gia lần đầu tiên,
    và tôi đã thật rùng mình
  102. trước năng lực làm thơ của mình.
  103. Nhưng đến cuối tháng, tôi xem lại
    30 bài thơ tôi đã viết,
  104. và nhận thấy rằng chúng đang
    kể cùng một câu chuyện,
  105. tôi đã phải làm 30 lần để
    tìm ra cách mà nó muốn được kể.
  106. Và tôi nhận ra có khi điều này đúng
    cho cả những câu chuyện ở quy mô lớn hơn.
  107. Có những câu chuyện mà tôi
    cố kể trong nhiều năm,
  108. viết đi viết lại và không ngừng
    kiếm những từ ngữ đắt giá.
  109. Có một nhà thơ, một nhà bình luận Pháp
    tên là Paul Valery
  110. nói rằng 1 bài thơ sẽ không bao giờ
    kết thúc, nó chỉ bị bỏ lại thôi.
  111. Điều này khiến tôi sợ hãi
    vì nó ngụ ý rằng
  112. tôi có thể tiếp tục chỉnh sửa và viết lại
    mãi mãi và nó là do tôi quyết định
  113. khi nào bài thơ đó hoàn thành
    và khi nào tôi có thể kết thúc nó.
  114. Điều này đi ngược lại bản năng
    đầy ám ảnh của tôi là
  115. cố tìm câu trả lời đúng, từ ngữ hoàn hảo,
    và những cấu trúc phù hợp.
  116. Tôi sử dụng thơ trong cuộc sống,
  117. như một cách định hướng và giải quyết
    mọi việc.
  118. Nhưng chỉ vì tôi kết thúc bài thơ
    không có nghĩa tôi đã tìm được lời giải
  119. cho bất cứ điều gì tôi đang băn khoăn.
  120. Tôi thích đọc lại những bài thơ cũ,
  121. nó cho tôi biết chính xác bản thân mình
    ở đâu tại thời điểm đó.
  122. Đó là điều tôi đã cố gắng xác định
  123. và từ ngữ mà tôi chọn có ý nghĩa với tôi.
  124. Bây giờ, tôi có một câu chuyện
  125. mà tôi đã ngần ngại suốt nhiều năm
  126. và tôi vẫn không chắc mình
    đã tìm ra cấu trúc phù hợp chưa,
  127. hay nó có phải chỉ là bản nháp thôi
  128. và sau này tôi sẽ cố chỉnh sửa thêm
  129. để tìm một cách diễn đạt tốt hơn?
  130. Nhưng tôi biết rằng sau này,
    khi tôi nhìn lại
  131. tôi sẽ biết được đây là tôi
    tại thời điểm đó
  132. và đây là những gì
    tôi đã cố gắng xác định,
  133. với những ngôn từ này, tại đây,
    trong căn phòng này, cùng các bạn.
  134. Vậy -- hãy mỉm cười.
  135. Không phải lúc nào nó cũng diễn ra như vậy.
  136. Sẽ có lúc bạn phải bận bịu tay chân.
  137. Khi bạn ở trong bóng tối, gần như
    mò mẫm là tất yếu,
  138. bạn cần nhiều sự tương phản hơn,
    nhiều độ bão hòa hơn,
  139. tối càng tối, và sáng càng sáng.
  140. Họ gọi nó là sự phát triển dài hạn.
    Nghĩa là bạn
  141. hít phải các hóa chất nhiều hay ít
    là tùy thuộc vào bạn.
  142. Không phải lúc nào cũng dễ dàng.
  143. Ông ngoại Stewart đã từng là
    1 nhiếp ảnh gia của hải quân.
  144. Trẻ trung, hồng hào với
    tay áo xắn cao,
  145. các ngón tay khi nắm thành đấm như
    những xâu tiền xu to bự,
  146. ông trông giống thủy thủ Popeye
    ngoài đời thực.
  147. Với điệu cười giòn tan,
    lông ngực rậm,
  148. ông xuất hiện ở thế chiến thứ 2
    với một nụ cười tinh ranh và một sở thích.
  149. Khi người ta hỏi ông rằng
    ông có biết nhiều về nhiếp ảnh,
  150. ông nói dối, và ông đã học
    để thuộc Châu Âu như đọc bản đồ,
  151. lộn ngược,
    từ độ cao của máy bay chiến đấu,
  152. máy ảnh nháy, những cái chớp mắt,
    những bóng đêm đen nhất
  153. và những khoảng sáng nhất.
  154. Ông thuộc lòng chiến tranh như
    nhớ đường về nhà.
  155. Khi quay về, mọi người thì
    cất vũ khí nghỉ ngơi,
  156. nhưng ông mang theo cả ống kính
    và chiếc máy ảnh về nhà.
  157. Mở một cửa hiệu, biến nó
    thành việc kinh doanh gia đình.
  158. Cha tôi đã được sinh ra trong
    thế giới đen và trằng này.
  159. Đôi tay chơi bóng rổ của ông đã tỉ mẩn
    học từng nút bấm nhỏ và cách đưa

  160. ống kính vào khung, lắp phim vào máy,
  161. đổ hóa chất vào thùng tráng.
  162. Bố ông chỉ biết về các thiết bị
    chứ không rõ về nghệ thuật.
  163. Ông hiểu bóng tối chứ
    không phải ánh sáng.
  164. Bố tôi đã học được phép diệu kỳ,
    dành thì giờ theo đuổi ánh sáng.
  165. Có lần ông băng qua cả quốc gia để
    theo dõi một vụ cháy rừng,
  166. săn đuổi nó bằng máy ảnh trong cả tuần.
  167. Ông nói: "Hãy đuổi theo ánh sáng".
  168. "Hãy đuổi theo ánh sáng".
  169. Có những phần của bản thân
    tôi chỉ nhận ra qua ảnh.
  170. Cái gác xép trên phố Wooster
    với những hành lang ọp ẹp,
  171. trần nhà cao 12 inches,
    tường trắng và sàn nhà lạnh.
  172. Đó là nhà mẹ tôi,
    trước khi bà trở thành mẹ.
  173. Trước khi lấy chồng, mẹ là nghệ sĩ.
  174. Chỉ có hai phòng trong nhà,
  175. với những bức tường cao chạm trần,
  176. và những cánh cửa đóng rồi mở,
  177. đó là phòng tắm và phòng tối.
  178. Cái phòng tối được mẹ tự xây,
    với những
  179. bồn inox được đặt riêng,
    một cái giường gấp cỡ 8x10
  180. di chuyển lên xuống nhờ 1 tay quay
    khổng lồ,
  181. một dãy bóng đèn cân bằng màu sắc,
  182. một bức tường bằng kính ngắm cảnh,
  183. một giá phơi có thể thu gọn
    trong tường.
  184. Mẹ tôi đã tự xây một cái phòng tối.
  185. Biến nó thành nhà.
  186. Mẹ yêu một người đàn ông
    chơi bóng rổ,
  187. và cách ông nhìn ánh sáng.
  188. Họ kết hôn. Có 1 đứa con.
  189. Chuyển đến 1 ngôi nhà gần công viên.
  190. Nhưng họ vẫn giữ cái gác xép phố Wooster
  191. cho các dịp sinh nhật hay
    trò tìm kho báu.
  192. Đứa bé làm đổ dải màu xám.
  193. Lấp đầy album ảnh của bố mẹ cô bằng
    những quả bóng bay đỏ
  194. và bánh kem màu vàng.
  195. Đứa bé lớn lên thành thiếu nữ
    không có tàn nhang,
  196. nụ cười rạng rỡ,
  197. không hiểu tại sao nhà bạn bè cô
    không có phòng tối,
  198. chưa bao giờ thấy bố mẹ cô hôn nhau,
  199. chưa bao giờ thấy họ nắm tay.
  200. Nhưng một ngày, một đứa bé khác xuất hiện.
  201. Mái tóc suôn mượt, hai má bầu bĩnh.
  202. Họ đặt tên nó là Khoai lang.
  203. Khi nó cười, nó cười thật lớn,
  204. làm lũ bồ câu ở lối thoát hiểm phát sợ.
  205. Bốn người họ sống trong ngôi nhà
    gần công viên.
  206. Con bé không có tàn nhang,
    và thằng bé Khoai lang,
  207. ông bố mê bống rổ và bà mẹ
  208. họ thắp nến và cầu nguyện,
  209. và góc những bức ảnh đã bị cong.
  210. Một ngày, vài tòa tháp sụp đổ
  211. và ngôi nhà gần công viên
    chìm dưới tro bụi, nên họ trốn đi.
  212. Mang balo, đi xe đạp đến căn phòng tối.
    nhưng căn gác ở phố Wooster
  213. được thiết kế cho một nghệ sĩ,
    không phải một gia đình bồ câu.
  214. và những bức tường không chạm đến trần
  215. không thể ngăn những lời cãi cọ
  216. và người đàn ông từ bỏ vũ khí.
  217. Ông không thắng nổi cuộc chiến này
    và không bản đồ nào chỉ đường về nhà.
  218. Bàn tay ông không vừa máy ảnh nữa,
  219. không còn nắm vừa bàn tay vợ ông,
  220. không vừa với cơ thể ông nữa.
  221. Thằng bé khoai lang nhét nắm tay
    vào miệng ông
  222. cho đến khi ông không còn gì để nói.
  223. Thế nên, đứa con gái đã đi tìm kho báu
    một mình.
  224. Và trên phố Wooster, trong tòa nhà
    có những hành lang cọt kẹt,
  225. và căn gác trần cao 12 inches
  226. và căn phòng tối có quá nhiều bồn
  227. dưới ánh đèn, cô tìm thấy 1 lời ghi chú,
  228. ghim trên tường, còn lại từ thời
    trước những tòa tháp,
  229. trước khi có những đứa trẻ.
  230. Lời ghi chú viết: "Một người đàn ông hẳn
    rất thích cô gái làm việc ở phòng tối."
  231. Đó là một năm trước khi cha tôi
    lại cầm máy ảnh.
  232. Lần đầu tiên ra ngoài, ông đi theo
    ánh đèn Giáng sinh,
  233. đánh dấu lên cây theo những con đường
    chạy dọc New York.
  234. Những đốm sáng nhỏ, phát sáng
    trước mặt ông từ những nơi đen tối nhất.
  235. Một năm sau ông đi khắp đất nước
  236. đi theo một đám cháy rừng,
  237. giành cả tuần săn đuổi bằng
    cái máy ảnh của ông,
  238. đám cháy tàn phá Bờ Tây
  239. nuốt gọn cả những chiếc xe 18 bánh.
  240. Ở bờ kia đất nước,
  241. tôi đến lớp và viết một bài thơ
    trên lề cuốn tập.
  242. Chúng ta đều đã học về
    nghệ thuật nắm bắt.
  243. Có lẽ chúng ta đang học về nghệ thuật
    nâng niu.
  244. Có lẽ chúng ta cũng đang học cách
    buông bỏ.
  245. Cám ơn (Vỗ tay).