YouTube

Got a YouTube account?

New: enable viewer-created translations and captions on your YouTube channel!

Vietnamese subtitles

← Đứa con của Internet: Câu chuyện về Aaron Swartz

Get Embed Code
46 Languages

Showing Revision 12 created 10/04/2014 by Book Hunter.

  1. Có nhiều luật lệ không công bằng.
  2. Chúng ta có nên ngoan ngoãn tuân theo?
  3. Hay chúng ta nên đàm phán
    tìm cách thay đổi chúng?
  4. Hay đơn giản là bác bỏ chúng ngay lập tức?
  5. Người ta vừa tìm thấy xác của một trong
    những người sáng lập trang Reddit.
  6. Cậu ta đúng là một thiên tài
  7. nhưng cậu ta chưa từng thừa nhận điều đó.
  8. Cậu ấy không hề màng tới việc
  9. kinh doanh kiếm tiền.
  10. Tối nay, một bầu không khí ảm đạm
    đang bao trùm Highland Park
  11. quê nhà của Aaron Swartz
  12. với những lời thương tiếc tiễn đưa một
    trong những thiên tài của mạng Internet.
  13. Những người hoạt động vì tự do thông tin
    khóc thương trước mất mát vô cùng lớn này.
  14. “Một trí tuệ siêu phàm" những ai biết
    Aaron đều nhận xét về anh như vậy.
  15. Anh ấy bị chính phủ sát hại, và MIT đã phản
    bội lại những nguyên tắc của chính mình.
  16. Họ muốn lấy anh làm ví dụ răn đe.
  17. Chính phủ luôn muốn kiểm soát.
  18. Anh ấy có thể phải ngồi tù 35 năm
    và nộp phạt 1 triệu đô la.
  19. Vụ án này còn quá nhiều tranh cãi và thậm
    chí có cả vi phạm của cơ quan chức trách.
  20. Bạn đã từng xem xét kỹ vấn đề này
    và đi đến một kết luận nào chưa?
  21. Khi lớn lên, tôi nhận ra rằng
    có nhiều thứ xung quanh chúng ta,
  22. mà ai cũng “ừ thì đó là tự nhiên mà”
    nhưng chúng chẳng tự nhiên một chút nào.
  23. Có những thứ có thể thay đổi,
    và thậm chí nên phải thay đổi.
  24. Và khi tôi nhận ra điều đó,
    tôi không thể ngoảnh mặt lại với nó.
  25. Đứa con của Internet
  26. Hân hạnh được đọc cho
    quý vị một cuốn truyện
  27. có tựa đề của nó là "Paddington ở Hội trợ”.
  28. Aaron sinh ra và lớn lên tại Highland Park.
  29. Trong nhà có ba anh em trai,
    tất cả đều rất thông minh.
  30. “Kìa, cái hộp đang lật kìa…”
  31. Chúng tôi không phải là những
    đứa trẻ ngoan ngoãn biết nghe lời.
  32. Ba đứa trẻ nô đùa và gây chuyện
    suốt ngày.
  33. “Ấy kìa, không được!
  34. - Aaron!
    - Dạ?
  35. Tôi nhận ra rằng Aaron đã bắt đầu
    học từ khi còn rất nhỏ.
  36. 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10.
  37. - Cốc, cốc!
    - Ai gọi đó?
  38. - Aaron
    - Aaron nào cơ?
  39. - Aaron vui tính.
  40. Nó biết điều nó muốn và nó luôn thành
    công trong bất cứ điều gì nó làm.
  41. Nó có một trí tò mò vô hạn.
  42. Đây là một bức ảnh mô tả
    các hành tinh.
  43. Mỗi hành tinh có một biểu tượng. Biểu
    tượng của Sao Thuỷ này, của sao Kim này,
  44. biểu tượng của Trái đất này,
    của sao Hoả, rồi sao Mộc.
  45. Một hôm, nó nói với Susan:
  46. “Vui chơi miễn phí cho gia đình dưới thị
    trấn Highland Park này là gì hả mẹ?”
  47. “Vui chơi miễn phí cho
    gia đình Highland Park”
  48. Thằng bé lúc đó mới 3 tuổi.
  49. Mẹ nói mới hỏi:
    “Con đang nói gì thế?”
  50. Nó bảo: “Kia kìa,
    mẹ nhìn xem, trên tủ lạnh ấy,
  51. ghi là vui chơi miễn phí cho
    gia đình ở Highland Park."
  52. Cô ấy vô cùng ngạc nhiên khi biết con
    trai mình biết đọc.
  53. Nó có tên là “Bữa ăn tối trong
    lễ Vượt Qua của nhà tôi".
  54. Buổi tối của bữa ăn trong lễ Vượt Qua
    khác với tất cả những buổi tối khác.
  55. Một hôm, chúng tôi tới thăm
    thư viện của trường đại học Chicago.
  56. Tôi mới lôi từ trên giá sách ra một cuốn
    từ những năm 1900.
  57. Tôi cho nó xem và nói: “Con biết không,
    đây là một nơi thật tuyệt vời".
  58. Chúng tôi đều là những đứa trẻ tò mò,
  59. nhưng Aaron thực sự thích
    học và dạy lại cho người khác.
  60. Bây giờ chúng ta sẽ học
    bảng chữ cái theo chiều ngược lại.
  61. Z, Y, X, W, V, U, T...
  62. Tôi vẫn còn nhớ cái giây phút anh ấy về nhà
    sau giờ học Số học đầu tiên trên trường.
  63. Anh ấy mới nói với tôi: "Noah,
    để anh dạy em số học nhé!"
  64. Tôi mới ngạc nhiên: “số học là gì?”
  65. Anh ấy lúc nào cũng như vậy.
  66. Nhấn vào cái nút này,
    clíck, như thế, đó, như thế!
  67. Giờ thì nó màu hồng rồi!
  68. Khi nó mới khoảng 2,3 tuổi,
    Bob cho nó xem chiếc máy vi tính.
  69. Điều đó làm nó hứng thú vô cùng.
  70. (trẻ con nói)
  71. Chúng tôi đều có máy vi tính, nhưng Aaron
    thực sự say mê chúng, say mê Internet.
  72. - Con làm việc với máy vi tính à?
    - Naann…
  73. Mẹ ơi, tại sao chẳng có
    cái gì chạy cả thế này?
  74. Nó bắt đầu lập trình từ lúc còn rất nhỏ.
  75. Tôi vẫn còn nhớ chương trình đầu tiên
    tôi viết cùng với nó.
  76. Chúng tôi viết bằng BASIC, và
    đó là một trò đố vui trong Star Wars.
  77. Nó ngồi hàng tiếng đồng hồ trước chiếc máy
    vi tính để lập trình trò chơi đó với tôi.
  78. Rắc rối mà tôi luôn gặp phải với nó đó
    là tôi chẳng muốn làm xong cái gì cả.
  79. Còn với nó, luôn có một cái gì đó để làm
  80. luôn có một cái gì đó có thể
    được giải quyết bởi máy vi tính.
  81. Aaron luôn luôn xem lập trình như
    một thứ phép màu vậy,
  82. một thứ cho phép thực hiện được những
    điều người bình thường không làm được.
  83. Aaron đã làm một chiếc máy ATM bằng
    một chiếc Mac và hộp giấy bìa cứng.
  84. Có một dịp, tôi không biết phải
    hoá trang cho Halloween như thế nào.
  85. Nó chợt nghĩ sẽ thú vị làm sao nếu tôi hoá
    trang thành chiếc máy tính yêu thích của nó
  86. và đó là chiếc iMac nguyên gốc.
  87. Nó rất ghét hoá trang cho Halloween
  88. nhưng nó cực thích thuyết phục người khác
    hoá trang thành thứ nó muốn.
  89. “Host Aaron, dừng lại!
    Mọi người ơi, hãy nhìn vào máy quay nào!
  90. Người Nhện nhìn vào máy quay.
  91. Nó viết trang "The Info", nơi mọi người
    có thể cung cấp thông tin về bất cái gì.
  92. Nếu một ai đó, biết một phần, hoặc tất cả
    về vàng, hay về mạ vàng…
  93. Tại sao không để cho họ viết
    hết lên trang web này?
  94. Những người khác có thể đọc
  95. và sửa nếu họ thấy có những lỗi nào đó.
  96. Không khác xa Wikipeida là mấy phải không?
  97. Wikipedia mãi sau này mới ra đời
  98. và ý tưởng này đã một cậu bé 12 tuổi
    nghĩ ra trong căn phòng bé nhỏ của cậu
  99. sử dụng một máy chủ tí hon,
    và một công nghệ rất cổ lỗ xỉ.
  100. Một giáo viên của anh ấy mới phản hồi:
  101. “Thật là một ý tưởng tệ hại!
  102. Chúng ta không thể để bất cứ ai
    chỉnh sửa bách khoa toàn thư được.
  103. Đó là công việc của các học giả
    uyên bác.
  104. Cậu lấy cái ý tưởng điên rồ này ở đâu vậy?”
  105. Chúng tôi hay nói với nhau:
  106. “Ừ, Wikipedia đúng là hay thật. Nhưng chúng
    tôi đã có nó trong nhà 5 năm trước rồi.”
  107. Trang web của Aaron, “theinfo.org” đã
    giành giải cho học sinh
  108. được tổ chức bởi ArsDegita,
    một công ty có trụ sở tại Cambridge.
  109. Tất cả chúng tôi đều tới Cambridge
    khi nó thắng giải ArsDigita.
  110. Nhưng chúng tôi không
    biết Aaron đang làm gì.
  111. Rõ ràng rằng giải thưởng này
    rất quan trọng đối với nó.
  112. Aaron nhanh chóng gia nhập cộng đồng
    lập trình viên trên mạng,
  113. và tham gia vào một dự án thành lập
    nên một công cụ mới cho mạng Internet.
  114. Nó tới và nói với tôi: "Ben, anh phải xem
    thứ mà em đang làm, cực kỳ thú vị.”
  115. Ừ, cái gì thế?
  116. “Nó có tên là RSS."
  117. Nó giải thích cho tôi RSS là gì,
    nhưng tôi phải hỏi nó:
  118. “Tại sao cái này lại hữu dụng?
  119. Có trang web nào dùng nó không?
    Tại sao tao lại phải dùng nó?”
  120. Chúng ta có một danh sách những
    người đang làm việc cho RSS
  121. và XML nói chung
  122. Trong danh sách này, có một người
    tên là Aaron Swartz
  123. khá hiếu chiến nhưng rất thông minh
  124. và cậu ta có rất nhiều ý tưởng hay.
  125. Nhưng cậu ta chưa từng tham gia
    những buổi gặp mặt của cộng đồng
  126. do đó chúng tôi mới hỏi cậu ấy: “Khi nào thì
    cậu mới định tham dự các cuộc gặp mặt?”
  127. Cậu ta trả lời: “Tôi không biết mẹ tôi
    có đồng ý không. Tôi mới có 14 tuổi.”
  128. Phản ứng đầu tiên của chúng tôi là:
  129. “Cậu bé mà chúng ta đã làm việc
    cùng trong suốt một năm,
  130. mới chỉ 13 tuổi và giờ cậu ta
    chỉ mới lên 14.”
  131. Sau đó mọi người nhao nhao:
  132. “Thật không thể tin được!
    Chúng ta phải gặp cậu ấy!"
  133. Cậu ấy là thành viên của hội đồng
    soạn thảo RSS.
  134. Công việc cậu ấy đang làm là giúp xây dựng hệ
    thống phân phối thông tin cho mạng Internet.
  135. Phần việc cậu ấy đảm nhận,
    RSS, là một công cụ cho phép thu thập
  136. thông tin tóm tắt xảy ra trên
    các trang web khác.
  137. Phần lớn nó được dùng cho các blog.
  138. Hãy tưởng tượng bạn muốn đọc
    10 đến 20 blog.
  139. Bạn sử dụng công cụ RSS của các trang này,
    nó sẽ gửi cho bạn tóm tắt những gì mới nhất.
  140. Để tạo thành một danh sách thống nhất
    tất cả những gì đã xảy ra.
  141. Aaron thực sự còn rất trẻ,
    nhưng cậu ấy đã hiểu công nghệ.
  142. Cậu ấy biết nó còn nhiều khuyết điểm
    và tìm cách để cải tiến nó.
  143. Và thế là mẹ cậu đưa cậu
    tới sân bay Chicago.
  144. Chúng tôi đón cậu ấy ở San Francisco.
  145. Chúng tôi giới thiệu cậu ấy với
    những người thú vị để tranh luận.
  146. Khẩu vị của cậu ấy làm chúng
    tôi rất ngạc nhiên.
  147. Cậu ta chỉ ăn những gì màu trắng
    ví dụ như cơm trắng
  148. không ăn cơm rang vì
    không có màu trắng,
  149. và bánh mỳ trắng,..
  150. Chúng tôi rất ngạc nhiên trước khả năng
    tranh luận của một cậu bé.
  151. Chúng tôi nói với nhau rằng “Cậu bé này sẽ
    tiến xa trừ khi chẳng may đột tử vì tai nạn.”
  152. Aaron, tới lượt cậu!
  153. Hoàn cảnh đã thay đổi. Chúng ta không
    thể tạo ra các công ty trực tuyến
  154. những công ty chỉ bán thức ăn cho chó
  155. qua mạng Internet hay
    qua điện thoại di động.
  156. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều
    những ý tưởng đang được nhen nhóm.
  157. Nếu bạn không thể nhìn thấy điều đó
    thì chỉ có thể là do bạn cố làm ngơ.
  158. Anh ấy hành động nhiều khi
    như một thằng mọt sách chính hiệu:
  159. “Tao thông minh hơn mày.
    Và bởi vì tao thông minh hơn mày,
  160. nên tao tốt hơn mày
    và tao có thể bảo mày phải làm gì."
  161. Đó là một khía cạnh của anh ấy
    với tính cách của một kẻ tinh nghịch.
  162. Bạn kết hợp các máy vi tính lại và bạn
    có thể giải quyết rất nhiều vấn đề lớn,
  163. ví dụ như chữa ung thư
    hoặc liên lạc với người ngoài hành tinh.
  164. Tôi gặp cậu ấy lần đầu tiên
    tại Diễn đàn Mạng Relay
    (Internet Relay Chat).
  165. Cậu ta không chỉ biết lập trình,
  166. cậu ta còn làm mọi người thích thú với
    những vấn đề cậu muốn giải quyết.
  167. Cậu ta đúng là một cầu nối.
  168. Cậu ấy đã đóng góp rất nhiều
    cho phong trào tự do văn hoá.
  169. Theo tôi thì Aaron đang cố gắng
    làm cho thế giới hoạt động suôn sẻ.
  170. Cậu ta muốn sửa nó.
  171. Cậu ấy có một cá tính mạnh mẽ
    đôi khi dễ gây “đụng chạm” tới nhiều người.
  172. Chẳng phải lúc nào cậu ấy
    cũng thấy thoải mái với thế giới
  173. và thế giới cũng không phải lúc nào
    cũng thoải mái với cậu ấy.
  174. Aaron tới trường học nhưng
    anh ấy không hề thích chút nào.
  175. Anh ấy không thích các môn học,
    cũng chẳng thích các thầy cô giáo
  176. Aaron thực sự biết cách
    tìm kiếm thông tin.
  177. Anh ấy nói: “Tao chẳng cần
    phải ngồi học lớp hình học.
  178. Tao chỉ cần đọc sách hình học là đủ.
  179. Tao chẳng cần phải học với ông thầy này
    về lịch sử nước Mỹ từ quan điểm của ông ấy.
  180. Tao có cả ba bộ lịch sử ở đây
    và tao chỉ cần đọc chúng là đủ.
  181. Và tao chẳng thích học cái này.
    Tao muốn học về mạng Internet.
  182. Tôi thực sự nản với trường lớp.
  183. Theo tôi, các thầy cô giáo chẳng hiểu
    cái họ đang nói một chút gì cả.
  184. Họ áp đặt và cưỡng ép.
    Còn bài tập về nhà thì thật đúng là….
  185. Và chỉ có một mục đích duy nhất là làm học
    sinh bận rộn với đống sách vở thi thố.
  186. Và rồi tôi bắt đầu đọc sách về
    lịch sử nền giáo dục,
  187. về ý tưởng một hệ thống giáo dục
    và những hệ thống thay thế nó
  188. về phương pháp giáo dục, hiệu quả,
    chứ không chỉ đơn giản là “học vẹt”
  189. Điều này đã đưa tôi đến với
    những câu hỏi muôn thủa.
  190. Sau khi đặt câu hỏi về ngôi trường tôi học
  191. tôi bắt đầu nghi vấn cả
    xã hội mà tôi đang sống,
  192. tôi tự hỏi về những ngành nghề mà
    trường học đang đào tạo con người
  193. và chính phủ với vai trò xây dựng
    và duy trì cả hệ thống này.
  194. Một trong những thứ khiến nó
    đam mê đó là luật bản quyền
  195. Luật bản quyền bấy lâu nay luôn là một
    hòn đá tảng trong giới xuất bản và độc giả
  196. nhưng không phải quá nặng nề.
  197. Đây là một điều luật hợp lý
    giúp các tác giả được trả công xứng đáng.
  198. Điều mà Aaron và thế hệ của anh
    phải đối mặt đó là
  199. sự mâu thuẫn giữa một hệ thống cũ kỹ
    với những nhân tố mới mà chúng tôi đang xây
  200. Internet và mạng.
  201. Những điều này mâu thuẫn với nhau
    và tạo nên một sự hỗn loạn.
  202. Cậu ấy đã gặp Lawrence Lessig,
    giáo sư luật của Harvard.
  203. Vào lúc đó, giáo sư Lessig đang đệ
    trình luật bản quyền lên Toà án tối cao.
  204. Chàng frai trẻ Aaron Swartz bay tới Washington
    để tham dự phiên toà tại Toà án tối cao.
  205. Tôi là Aaron Swartz và tôi tới
    đây để nghe Eldred tranh luận.
  206. Tại sao cậu lại bay tận từ Chicago tới đây
    để chỉ nghe Eldred tranh luận?
  207. Đó là một câu hỏi khó hơn…
  208. Tôi…Tôi không biết.
  209. Được diện kiến Toà án tối cao là một điều rất
    thú vị, đặc biệt là trong vụ án tầm cỡ này.
  210. Giáo sư Lessig đang xây dựng một định nghĩa
    mới cho luật sở hữu trí tuệ trên Internet..
  211. Được gọi tên là “Creative Commons (CC)”
  212. Ý tưởng của Creative Commons đó là
    cho phép mọi người, các tác giả
  213. cân đối giữa việc sở hữu sản phẩm
    sáng tạo của mình và mong muốn chia sẻ nó.
  214. Thay vì “Alrights Reserved”
    (mọi hành vi sao chép đều bị cấm)
  215. chúng ta giờ có “Chỉ một số
    hành vi sao chép bị cấm”.
  216. Tóm lại nó là thế này: “Đây là những
    việc bạn có thể làm với sản phẩm của tôi
  217. thậm chí trong nhiều trường hợp bạn
    cần có sự cho phép của tôi trước.”
  218. Vai trò của Aaron là
    trong lĩnh vực công nghệ thông tin:
  219. Làm thế nào để làm cho luật bản
    quyền này đơn giản và dễ hiểu
  220. và có thể diễn đạt theo cách
    mà máy móc có thể hiểu được.
  221. Mọi người bàn tán xôn xao:”Tại sao lại giao trọng
    trách cụ thể hoá CC cho một thằng bé 15 tuổi?
  222. Điều này không phải điên rồ sao?"
  223. Nhưng Lary đã trả lời rằng:
    “Điên thì mới không nghe lời cậu bé này.”
  224. Cậu ấy chỉ cao quá cái bục có chút đỉnh.
  225. Mà cái bục không thể tuỳ chỉnh được.
    Điều này thật đáng xấu hổ
  226. vì khi cậu ta bật màn hình lên
    chẳng ai thấy được cái đầu cậu ta đâu cả.
  227. Nếu bạn duyệt trang của chúng tôi,
    và bạn click vào "Chọn luật bản quyền",
  228. bạn sẽ có một danh sách các lựa chọn,
    bạn sẽ được giải thích ý nghĩa của chúng,
  229. và bạn phải trả lời 3 câu hỏi đơn giản:
  230. “Bạn có muốn ghi nhận là tác giả?
  231. Bạn có cho phép kiếm tiền từ
    sản phẩm của bạn?
  232. Bạn có cho phép thay đổi
    tác phẩm của bạn?"
  233. Tôi hoàn toàn ngạc nhiên khi thấy những người
    lớn này xem nó một cách bình đẳng với họ.
  234. Trước toàn thể mọi người,
    Aaron bắt đầu nói
  235. về nền tảng mà nó đã
    tạo ra cho luật bản quyền kiểu mới CC.
  236. Và ai cũng chăm chú lắng nghe nó...
  237. Tôi ngồi ở cuối và thầm nghĩ: “Nó chỉ là một
    đứa trẻ! Tại sao mọi người lại nghe nó?”
  238. Nhưng ai cũng chăm chú lắng nghe...
  239. Tôi nghĩ rằng tôi đã không thực sự hiểu.
  240. Nhiều người chỉ trích rằng CC đã không giúp
    tác giả kiếm được tiền từ sản phẩm của họ.
  241. Tuy nhiên thành công của CC thực
    sự đáng ngưỡng mộ.
  242. Riêng Flickr, hơn 200 triệu người
    dùng sử dụng luật bản quyền CC.
  243. Cậu ấy không chỉ đóng góp công
    sức thông qua sự am hiểu kỹ thuật của mình.
  244. Trên trang cá nhân của mình, cậu
    đã chia sẻ rất chân thật.
  245. Tôi suy nghĩ về nhiều vấn đề,
    và tôi muốn ai cũng làm như thế.
  246. Tôi theo đuổi các ý tưởng, và tôi học từ nhiều
    người khác. Tôi không thích loại mọi người ra.
  247. Tôi theo đuổi sự hoàn hảo, nhưng không
    phải vì thế mà cản trở sự xuất bản.
  248. Trừ giáo dục và giải trí
  249. tôi không phí thời gian vào những
    thứ không gây được ảnh hưởng.
  250. Tôi thử làm bạn với tất cả mọi người nhưng
    tôi ghét khi mọi người xem thường tôi.
  251. Tôi không thích căm ghét, vì nó cản trở mình,
    nhưng tôi học được từ kinh nghiệm bản thân.
  252. Tôi muốn làm cho thế giới tốt hơn.
  253. Năm 2004, Swartz rời Highland Park
    và vào học trường đại học Stanford.
  254. Nó bị bệnh Viêm loét Đại tràng nặng và chúng
    tôi rất lo lắng khi nó phải uống thuốc.
  255. Nó phải vào viện và phải uống
    cả một cốc thuốc mỗi ngày
  256. một trong số đó là thuốc steroid
    một loại có tác dụng phụ là làm chậm lớn
  257. và nó làm cho Aaron cảm thấy
    khác biệt với các sinh viên khác.
  258. Aaron, tôi nghĩ nghĩ rằng với việc
    được học bổng của trường Standford
  259. và được vào học lớp cho
    học sinh cấp ba xuất sắc
  260. với một người trong bốn năm tới sẽ
    trở thành lãnh đạo và vào hàng ngũ hiếm hoi
  261. thì thực sự điều này làm cho
    cậu ấy thật sự phấn khích.
  262. Trong năm 2005, chỉ sau
    một năm vào học Standford
  263. Swartz đã được đề nghị một ví trí tại một công ty ươm mầm
    khởi nghiệp tên là Y Combinator, do Paul Graham lãnh đạo.
  264. Anh ấy nói với Paul: “Này, tôi có
    một ý tưởng làm một trang web”.
  265. Và Paul đã khá thích Aaron rồi nên
    đáp lại: “Được đấy, sao lại không nhỉ”.
  266. Và thế là Aaron bỏ học và tới ở căn hộ này…
  267. Cho nên đây từng là nơi Aaron sống.
  268. Tôi vẫn nhớ mang máng rằng
    bố tôi bảo thuê nhà khó khăn như thế nào
  269. vì Aaron không có chút tín dụng
    nào và anh ấy lại còn bỏ học giữa chừng.
  270. Phòng khách này là nơi trước đây Aaron ở. Bạn
    có thể thấy những tấm áp-phích do Aaron bỏ lại.
  271. Và thư viện…có nhiều sách hơn nữa
    nhưng phần lớn là của Aaron.
  272. Trang web của Aaron cho Y Combinator có tên là
    “infogami”, một công cụ để xây dựng các website.
  273. Nhưng infogami không có nhiều
    người dùng và cuối cùng Aaron
  274. phải nhập công ty của cậu với một dự án
    Y Combinator khác để được giúp đỡ.
  275. Đó là một dự án do Steve Huffman và Alexis
    Ohanian lãnh đạo, có tên là Reddit.
  276. Chúng tôi bắt đầu gần như từ con số không. Không
    người dùng, không tiền, không một dòng lệnh
  277. và giờ mỗi ngày một lớn mạnh thành
    một trang web rất nổi tiếng.
  278. Và nó không có vẻ gì là dừng lại ở đó.
  279. Từ 1000 người dùng, rồi lên tới 10000
    rồi 20000 và cứ thế…thật sự tuyệt vời.
  280. Reddit trở nên khổng lồ và nó trở
    thành một góc nét nhỏ cho dân công nghệ.
  281. Rất nhiều truyện cười, nhiều nghệ thuật
    và mọi người cứ ùa nhau đổ vào trang web,
  282. và nó trở thành một món
    điểm tâm tin tức mỗi sáng.
  283. Reddit ở một mức nào đó
    giống như một sự hỗn loạn
  284. cho nên một mặt, đó là nơi mọi người lên bàn
    tán những thông tin về công nghệ, chính trị
  285. và mặt khác vẫn có rất nhiều bài với nội
    dung nhạy cảm hoặc gây xúc phạm
  286. có một số trang phụ của Reddit
    chỉ dành cho việc “chôn” nhau
  287. và do đó, theo một nghĩa nào đó Reddit
    đã trở thành một nơi chứa đầy tranh cãi.
  288. Nó thực sự hỗn loạn.
  289. Một tạp chí lớn có tên là Condé
    Nast đã chú ý tới Reddit
  290. và họ đã chào mua.
  291. Giá chào mua thực sự lớn, tới nỗi bố
    tôi phải đau đầu với những câu hỏi như
  292. “Lấy chỗ nào mà để tiền bây giờ?”
  293. - Thực sự rất nhiều tiền?
    - Thực sự rất nhiều tiền.
  294. Có lẽ là hơn một triệu đô la
    nhưng tôi thực sự không nắm rõ.
  295. - Lúc đó cậu ấy bao nhiêu tuổi?
    - 19, 20.
  296. Chính trong căn phòng này, họ ngồi ngay
    ở đây, khi chưa có những cái ghế bành này.
  297. Lập trình cho Reddit, và khi họ bán nó
  298. họ đã mở một bữa tiệc tưng bừng,
    và họ bay khỏi California ngày hôm sau
  299. và để lại chìa khoá cho tôi.
  300. Rất buồn cười, cậu ấy vừa mới bán công
    ty khởi nghiệp của mình và chúng tôi
  301. đều nghĩ rằng cậu ấy là
    người giầu nhất ở đây.
  302. Nhưng cậu ấy nói “Không, tôi chỉ cần căn phòng
    nhỏ bé này thôi. Thế là đủ với tôi rồi.”
  303. Nó chỉ nhỏ hơn cái gác xép một tí.
  304. Cậu ấy không hề tiêu tiền vào
    những thứ hào nhoáng.
  305. Nó nói: “Em thích sống trong những căn hộ thế nên em
    sẽ không tiêu tốn nhiều tiền vào những chỗ ở mới.
  306. Em sẽ không mua biệt thự hay villa,
    và em thích mặc quần jeans và T-shirt
  307. cho nên em sẽ không tiêu tiền vào quần áo.
  308. Nhiều tiền hay không cũng
    chẳng có gì to tát cả."
  309. Điều quan trọng đối với Swartz đó là lưu lượng
    thông tin di chuyển trên Internet như thế nào.
  310. Và điều gì điều khiển
    sự chú ý của chúng ta.
  311. Trong hệ thống truyền hình cũ
    chúng ta bị giới hạn bởi môt lượng
  312. kênh truyền nhất định. Bạn chỉ
    có thể truyền được khoảng 10 kênh
  313. còn nếu với truyền hình cáp
    thì có khoảng 500 kênh.
  314. Trên mạng Internet, mỗi người có một kênh. Mỗi
    người có một blog, hoặc một trang Myspace.
  315. Mỗi người lại có cách thể
    hiện riêng của mình.
  316. Vậy nên, câu hỏi đặt ra bây giờ không phải là
    ai được quyền truy cập vào các kênh truyền
  317. mà phải là ai kiểm soát cách bạn
    tìm kiếm người chủ của các kênh đó.
  318. Bạn đã bất đầu nhận thấy sức mạnh tập trung
    của những trang web như Google
  319. những trang web đóng vai trò như người giữ
    cửa nói cho bạn biết các nơi bạn muốn tới.
  320. Những người cung cấp cho bạn
    nguồn tin tức và thông tin.
  321. Bây giờ không phải là ai được quyền nói
    mà ai cũng có cái quyền đó rồi.
  322. Vấn đề là quyền được lắng nghe
    thì không phải ai cũng có.
  323. Sau khi bắt đầu làm việc tại San Francisco
    tại Condé Nast, nó đi vào văn phòng
  324. và họ muốn đưa cho nó cái máy vi tính với
    tất cả thứ rác rưởi đã được cài đặt sẵn
  325. và nói rằng nó không được cài thêm bất
    cứ cái gì mới vào chiếc máy vi tính này.
  326. Điều này đối với các lập trình viên
    là không thể chấp nhận được.
  327. Từ ngày đầu tiên, cậu ấy đã
    than phiền về tất cả mọi thứ.
  328. “Tường xám, bàn xám, ồn ào. Ngày đầu làm
    việc ở đây tôi đã không thể chịu được rồi.
  329. Giờ nghĩ trưa, tôi chốn
    trong nhà vệ sinh và khóc.
  330. Tôi còn không thể bình tĩnh nổi khi lúc
    nào cũng có ai đó lải nhải bên tai mình
  331. chứ đừng nói là làm xong
    được phần việc nào.
  332. Chẳng ai làm được tích sự gì ở đây cả.
  333. Lúc nào cũng có người ra người vào phòng chúng tôi
    chém gió hoặc rủ chúng tôi chơi trò chơi điện tử
  334. mà Wired đang cho chạy thử."
  335. Cậu ấy thực sự có cảm hứng khác
    những cảm hứng với thiên hướng chính trị,
  336. và Silicon Valley đơn
    giản không có văn hoá đó
  337. cái văn hoá hướng hoạt động kỹ
    thuật cho mục đích chính trị.
  338. Aaron ghét làm việc cho các tập đoàn.
  339. Tất cả đều ghét làm việc cho Condé Nast, nhưng chỉ
    Aaron là người duy nhất không chấp nhận điều này.
  340. Và Aaron đơn giản tự làm
    cho bản thân mất việc
  341. bằng việc không bao giờ tới làm nữa.
  342. Mọi người truyền tai nhau rằng đó thực
    sự là một sự đổ vỡ đáng tiếc.
  343. Cả Alexis Ohanian và Steve Huffman
    từ chối trả lời phỏng vấn cho bộ phim này.
  344. Cậu ấy từ chối thế giới tư bản.
    Một điều cần phải nhớ đó là
  345. khi Aaron lựa chọn từ bỏ thế giới khởi nghiệp
    thì cũng là lúc cậu ấy từ bỏ những thứ đã
  346. làm cho cậu ấy nổi tiếng và được yêu mến và
    Aaron có thể đánh mất những người hâm mộ.
  347. Cậu ta đã đi tới nơi cậu ta nên tới
  348. và cậu nhận ra rằng cậu đã trèo
    lên một núi phân thối tới nỗi
  349. ngắt một bông hồng nhưng nhận ra rằng
    mình không thể ngửi thấy mùi thơm của nó
  350. và thay vì cứ ngồi trên đống phân đó và
    tự an ủi mình rằng nó không tệ đến thế
  351. và cậu ấy luôn nhận được hoa hồng
  352. thì cậu ấy đã trèo xuống,
    thực sự rất tuyệt vời.
  353. Cái cách mà Aaron nhìn mọi thứ đó đó là
    lập trình là phép màu
  354. bằng lập trình bạn có thể làm được những
    thứ mà người bình thường không làm được.
  355. Vậy, khi bạn có phép màu nhiệm, bạn sẽ dùng
    nó vào mục đích tốt hay đi kiếm bội tiền?
  356. Khi còn là một đứa trẻ, Swartz đã được truyền cảm
    hứng bởi một trong số những người tiên phong.
  357. Người đàn ông đã phát minh ra
    World Wide Web Tim Berners-Lee.
  358. Trong những năm 1990, Berners-Lee
    đang trong quá trình
  359. tạo nên một trong những phát
    minh quan trọng nhất thế kỷ 20
  360. nhưng thay vì kiếm tiền từ phát minh World
    Wide Web, ông đã tặng nó cho toàn nhân loại.
  361. Đó chính là lý do duy nhất tại sao World
    Wide Web còn tồn tại tới ngày hôm nay.
  362. Aaron thực sự bị ảnh hưởng sâu sắc tởi Tim.
  363. Chắc chắn Tim là một người rất có ảnh hưởng trong
    giới Internet, một người không không hề vụ lợi.
  364. Ông ấy không hệ hứng thú với việc
    nghĩ ra cách để kiếm bội tiền.
  365. Mọi người thì liên tục bàn tán:
    “Oa, có thể kiếm tiền đấy,"
  366. nếu thế thì sẽ có rất
    nhiều những mạng nho nhỏ
  367. chứ không phải là một mạng lớn
  368. và một mạng nhỏ, cùng với đủ kiểu
    mạng không thể hoạt động được
  369. bởi vì bạn không thể đi tới đi lui
    bằng cách click vào các đường link được.
  370. Chúng ta phải có một lượng tối
    thiểu - cái đó là cả thế giới
  371. cho nên nó sẽ không làm gì được
    trừ khi cả thế giới được tham gia.
  372. Tôi cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng cách chúng
    ta đang sống trong thế giới này không ổn
  373. đơn thuần là lấy những cái mình được cho
    làm những gì người lớn bảo bạn làm
  374. và những gì bố mẹ bảo bạn làm, hay xã hội bảo.
    Tôi nghĩ rằng bạn nên luôn luôn nghi vấn.
  375. Tôi chọn thái độ khoa học, rằng mọi
    thứ mình học đều đơn giản chỉ là tạm thời
  376. và rằng luôn phải nghi ngờ, đặt câu hỏi, thay đổi niềm
    tin và tôi nghĩ rằng điều này cũng đúng với toàn xã hội.
  377. Một khi tôi nhận ra rằng có những vấn đề
    nghiêm trọng-vấn đề mang tính nền tảng
  378. và tôi có thể làm điều gì đó để giải quyết nó
    thì tôi không thể làm ngơ. Tôi phải làm gì đó.
  379. Chúng tôi bắt đầu dành
    thời gian cho nhau nhiều
  380. chỉ đơn giản như hai nguời bạn thôi.
  381. Chúng tôi nói chuyện hàng
    tiếng đồng hồ, xuyên đêm.
  382. Tôi lẽ ra phải nhận ra rằng cậu ấy
    đang tán tỉnh tôi. Có thể là
  383. lúc đó tôi nghĩ rằng giữa cậu ấy và tôi là không thể, điều
    này là điên rồ nên tôi giả vờ như chẳng có gì xảy ra.
  384. Lúc đó cuộc hôn nhân của tôi đang gặp nhiều
    vấn đề và tôi thực sự chẳng biết phải đi đâu
  385. chúng tôi thuê phòng ở chung
    và tôi mang con gái tôi tới.
  386. Chúng trang trí căn phòng
    và nó thực sự rất yên bình.
  387. Cuộc sống tôi đã lâu chưa có sự bình yên
    và cuộc sống của cậu ấy cũng thế.
  388. Chúng tôi rất thân với nhau ngay từ
    những ngày đầu mối quan hệ lãng mạn.
  389. Chúng tôi thường xuyên bên cạnh nhau.
  390. Nhưng cả hai đều là những
    kể khó tính. (Cười)
  391. Trong chính chương trình đối thoại cùng Ally McBeal cậu ấy đã thừa
    nhận rằng cậu ấy có một bài hát tủ và tôi đã bắt cậu ấy chơi cho tôi.
  392. Đó là bài “Extraordinary
    Machine”của Fiona Apple.
  393. Tôi nghĩ đó là vì bài hát này
    có một sự đấu tranh nhẹ nhàng
  394. lẫn sự hi vọng.
  395. ♪ By foot it's a slow climb, but I'm good
    at being uncomfortable so I can't stop
  396. changing all the time ♪
  397. Aaron rất lạc quan về cuộc sống, điều này cậu ấy
    thể hiện ra bằng nhiều cách. Ngay cả lúc bi quan
  398. cậu ấy cũng vẫn luôn yêu đời.
  399. ♪ Extraordinary machine ♪
  400. - Làm cái gì thế?
    (Quinn) - Flicker có video rồi đây.
  401. Swartz lao vào nhiều dự án mới khác nhau
  402. bao gồm việc truy cập thông tin công cộng
  403. ví dụ như một trang web
    accountability có tên là Watchdog.net
  404. và một dự án có tên là Thư
    viện mở (The Open Library).
  405. Dự án Thư viện mở là một trang web mà bạn có
    thể truy nhập tại địa chỉ openlibrary.org
  406. và ý tưởng là biến nó trở thành một web wiki khổng lồ mà mỗi
    trang dành cho một cuốn sách và nội dung có thể sửa chữa được.
  407. Tức là với mỗi cuốn sách đã từng được
    xuất bản chúng tôi muốn có một trang web
  408. chứa mọi thông tin về nhà xuất bản
    hiệu sách, thư viện, độc giả
  409. và các đường dẫn để cho bạn biết bạn có thể mua cuốn sách
    này hay mượn nó ở đâu, hoặc thậm chí đọc nó trực tuyến.
  410. Tôi rất thích thư viện. Khi tới một thành phố mới
    tôi sẽ tìm ngay đường tới thư viện ở thành phố đó.
  411. Đó chính là mục tiêu của Thư viện mở
    xây dựng một trang web mà ở đó
  412. bạn có thể đọc từ sách này tới sách kia, từ
    nhân vật tới tác giả, từ chủ đề tới ý tưởng
  413. đi qua hết hiển kiến thức của nhân loại mà
    hiện giờ bị bỏ quên trong các thư viện lớn
  414. những thư viện khó tìm kiếm, cồng kềnh và tốn kém.
    Phải thay đổi vì sách là nguồn di sản của chúng ta.
  415. Sách là chỗ để con người
    viết hiểu biết xuống
  416. và việc một tập đoàn nuốt trọn
    chúng là một điều đáng kính sợ.
  417. Bằng cách nào bạn có thể truy cập đại chúng
    tới tới phạm vi đại chúng (luật bản quyền)?
  418. Nghe có vẻ hiển nhiên vì rõ ràng bạn phải áp
    dụng phạm vi đại chúng cho truy cập đại chúng
  419. nhưng thực tế thì không phải như vậy. Kho tàng tri thức chung
    lẽ ra phải được mở miễn phí cho tất cả mọi người, nhưng không.
  420. Nó thường xuyên bị rào quanh. Điều này giống như là có
    một công viên quốc gia nhưng đầy lính đứng xung quanh
  421. và những nóng súng chỉa ra, đề phòng
    ai đó thực sự muốn vào thăm công viên.
  422. Một điều mà Aaron thực sự quan tâm đó là mang
    truy cập đại chúng vào phạm vi công cộng.
  423. Đây là điều làm cho cậu
    ấy gặp nhiều rắc rối.
  424. Tôi đã cố truy cập vào lưu trữ
    các vụ án liên bang tại Hoa Kỳ.
  425. Cái tôi phát hiện ra đó là một hệ thống
    khó hiểu có tên là PACER
  426. có nghĩa là Thư viện điện tử
    tư liệu pháp lý công cộng.
  427. Tôi bắt đầu tìm kiếm và đó là
    lúc tôi biết tới Carl Malamud.
  428. Truy cập tài liệu pháp lý tại Mỹ là một mảng
    king doanh với doanh thu 10 tỉ đô mỗi năm.
  429. PACER thực sự là một sự đáng xấu hổ
    của chính phủ. 10 cent một trang
  430. nó thực sự là một mớ bòng bong. Bạn không thể tìm
    nó, bạn cũng không thể lưu trang hay bất cứ gì
  431. Bạn phải có thẻ tín dụng trong khi
    đây là những lưu trữ công cộng.
  432. Toà án Bang Hoa Kỳ rất quan trọng; đây là
    nơi nhiều cuộc hội thảo soạn luật ra đời.
  433. Các vụ án dân sự, bản quyền, đủ mọi loại.
    Nhà báo, sing viên, công dân và luật sư
  434. ai cũng phải truy cập vào PACER
    và nó thì luôn cản trở mọi người.
  435. Những người không có điều kiện sẽ không thấy luật
    pháp đứng về phía họ như những người có thẻ ATM.
  436. Đây là một kiểu đánh thuế lên công lý.
  437. Luật pháp là hệ thống vận hành nền dân chủ của chúng ta
    vậy mà chúng ta lại phải trả tiền để chỉ nhìn thấy chúng?
  438. Nghe chẳng có vẻ gì là dân chủ mấy.
  439. Họ kiếm mỗi năm khoảng 120
    tỉ đô từ hệ thống PACER.
  440. Trong khi chi phí vận hành chẳng đáng là bao.
    Trên thực tế, điều này là hoàn toàn bất hợp pháp.
  441. Điều luật Chính phủ điện tử năm 2002 đã nói rõ
    rằng toàn án chỉ tính phí tới một mức độ cần thiết
  442. nhằm bù vào khoản chi phí
    vận hành và duy trì PACER.
  443. Với tư cách là người sáng lập ra Public. Resorce.Org
    Malamud muốn phản đối hành động thu phí của PACER.
  444. Ông ấy đã khởi xướng một chương trình
    có tên là Dự án quay vòng PACER
  445. nơi mọi người có thể gửi những
    tài liệu PACER mà họ đã trả tiền
  446. tới cơ sở dữ liệu miễn phí
    mà người khác có thể dùng.
  447. Những người sở hữu PACER gặp rất nhiều sức
    ép từ các Nghị sĩ và những người khác
  448. cho nên họ đã xây dựng 17 thư viện trên
    toàn quốc gia cho phép truy cập miễn phí.
  449. Điều này có nghĩa là cứ 22 nghìn dặm vuông thì có một
    thư viện. Thực sự theo tôi nó chẳng tiện một chút nào.
  450. Tôi khích lệ mọi người tình nguyện
    tham dự dự án Thumb Drive Corps.
  451. Và tải xuống các tài liệu từ thư viện công cộng rồi
    gửi lên trang chủ của dự án Quay vòng tài liệu PACER.
  452. Người dân mang ổ cứng tới những thư viện
    này và tải xuống hàng loạt tài liệu
  453. và họ gửi chúng tới cho tôi. Đó
    chỉ đơn thuần là một trò đùa.
  454. Trên thực tế, khi bạn click vào Thumb
    Drive Corps Phù thuỷ xứ Oz sẽ hiện lên
  455. bạn biết đó, bài hát Munchkins,
    và một video hiện ra:
  456. ♪ We represent the lollipop guild... ♪
  457. Thế nhưng tôi đã nhận được một cuộc gọi
    từ Steve Shultz và Aaron nói rằng:
  458. “Chúng tôi muốn gia nhập
    Thumb Drive Corps."
  459. Vào khoảng lúc đó, tôi đã gặp
    Aaron trong một cuộc họp.
  460. Đây thực sự phải là một sự
    hợp tác giữa nhiều người.
  461. Nên tôi đã tiến tới và nói với cậu ấy:
  462. “Này, tôi đang tính tới chuyện
    can thiệp vào vấn đề PACER.”
  463. Schultz đã phát triển một chương trình
    tải xuống tự động tài liệu của PACER
  464. từ các thư viện dùng thử.
  465. Swartz muốn xem qua.
  466. Nên tôi cho cậu ấy xem các dòng lệnh
    tôi không hề biết điều gì sẽ diễn ra tiếp
  467. nhưng thật bất ngờ khi trong
    vài tiếng đồng hồ sau đó
  468. cậu ấy đã ngồi trong một góc, cải thiện các
    dòng lệnh của tôi và gọi thêm một cậu bạn nữa
  469. sống ngay gần đó tới thư viện và
    kiểm thử phiên bản cậu ấy vừa cải tiến.
  470. Vào lúc đó, những người ở toà án nhận ra rằng có
    điều gì đó đã không đi theo kế hoạch định trước.
  471. Dữ liệu bắt đầu được gửi
    tới, gửi tới và gửi tới
  472. và chẳng mấy chốc họ đã tải về được 760G
    tài liệu PACER, khoảng 20 triệu trang.
  473. Sử dụng thông tin thu được
    từ các thư viện dùng thử
  474. Swartz đã thực hiện các tiến trình tải xuống
    song song khổng lồ từ hệ thống của PACER.
  475. Cậu ấy đã tải xuống gần 2.7 triệu tài liệu
    toà án Liên bang, khoảng gần 20 triệu trang.
  476. Tối có thể khẳng định rằng 20 triệu trang
    có thể vượt quá mong đợi của
  477. dự án truy cập dữ liệu này, nhưng làm ngạc
    nhiên người cầm quyền đâu có phạm pháp gì.
  478. Aaron và Carl quyết định nói với The New
    York Time về những gì họ đã thực hiện được.
  479. Họ cũng bị FBI chú ý tới và nhà của bố
    mẹ Swartz ở Illinois đã bị theo dõi.
  480. Tôi nhận được một cái tweet của mẹ cậu ấy:
    “Hãy gọi điện cho tôi!!
  481. Tôi tự hỏi không biết có
    chuyện gì xảy ra đây?
  482. Và thế là tôi đã liên lạc được với Aaron và
    mẹ cậu ấy thì: “Ối trời ơi, FBI, FBI, FBI”.
  483. Một đặc vụ FBI đã lái xe trên đường
    nhà tôi để xem Aaron có ở nhà không.
  484. Tôi vẫn còn nhớ hôm đó tôi đã thắc mắc không biết
    chiếc xe này chạy trên đường nhà tôi làm gì.
  485. Và lại cứ đi tiến rồi lại lùi. Kỳ cục!
  486. Năm năm sau tôi đọc tài liệu FBI này và tôi nhận
    ra: Trời ơi, đó là đặc vụ FBI, trên đường nhà tôi.
  487. Cậu ấy sợ hãi. Cậu ấy thực sự sỡ hãi.
  488. Cậu ấy còn sợ hơn sau khi
    FBI gọi điện trực tiếp
  489. và tìm cách lừa cậu ấy đi tới một cuộc hẹn
    ở quán cà phê mà không có luật sư đi cùng.
  490. Cậu ấy về nhà và nằm trên giường, run sợ.
  491. Việc tải xuống cũng đã lật tẩy nhiều tài liệu
    toà án vi phạm nghiêm trọng tới quyền riêng tư.
  492. Và cuối cùng chính toà án đã
    phải thay đổi các chính sách
  493. và FBI đã đóng hồ sơ mà
    không khởi tố gì cả.
  494. Tới tận ngày hôm nay, tôi vẫn thấy
    điều này thật quá sức tưởng tượng
  495. rằng không ai, thậm chí cả những nơi
    xa xôi hẻo lánh nhất của FBI
  496. nghĩ rằng việc sử dụng những
    đồng tiền từ thuế để điều tra
  497. những người phổ biến luật
    ra cho công chúng là bất hợp lý.
  498. Làm sao mà chúng ta có thể tự gọi
    mình là người sống theo pháp luật
  499. và nghĩ rằng thật sai trái khi
  500. làm cho luật pháp tới được
    với tất cả mọi người?
  501. Aaron đã sẵn sàng mạo hiểm vì
    lý tưởng mà cậu ấy đã tin vào.
  502. Không hài lòng với sự chênh lệch giàu nghèo, Swartz đã không chỉ
    dừng lại ở công nghệ mà còn tham gia vào những hoạt động chính trị.
  503. Tôi đã tới Hạ nghị viện và tôi mời cậu ấy tới
    thăm và tham gia cùng chúng tôi một thời gian
  504. để cậu ấy có thể học được
    quá trình chính trị là gì.
  505. Cậu ấy học về một cộng động mới, những kỹ năng mới tất
    cả những gì cần thiết để cậu có thể hack chính trị.
  506. Có vẻ như rất nực cười khi những người thợ mỏ phải đào
    đào cuốc cuốc cho tới khi cơ thể họ ướt đẫm mồ hôi
  507. và phải luôn tự nhủ rằng nếu mình dừng lại
    thì tối nay sẽ không có gì để cho vợ con ăn
  508. trong khi tôi mỗi ngày kiếm được càng
    nhiều tiền hơn mà chỉ có ngồi xem ti vi.
  509. Nhưng quả thật thế giới này thật lố bịch.
  510. Vì thế, tôi đã đồng sáng lập một “Hội
    đồng Chiến dịch Thay đổi Tiến bộ”
  511. và chúng tôi cố gắng quy tụ mọi người trên mạng
    những người quan tâm tới chính trị tiến bộ
  512. và muốn đưa đất nước này tới
    một hướng đi tiến bộ hơn
  513. và tổ chức gặp mặt, tham gia danh sách nhận email,
    tham gia các chiến dịch mà chúng tôi tổ chức
  514. và giúp những ứng cử viên tiến bộ
    trúng tuyển khắp nơi trên cả nước.
  515. Nhóm này đã đóng vai trò nòng cốt vào chiến
    dịch đưa Elizabeth Warren vào Thượng nghị viện.
  516. Cậu ấy có thể đã nghĩ rằng đây là một hệ thống ngu dốt
    nhưng cậu ấy đã bước vào và nói: “Tôi cần học hệ thống này
  517. vì nó có thể được lợi dụng như bất
    cứ hệ thống xã hội nào khác.”
  518. Nhưng đam mê kiến thức và thư viện
    của cậu ấy không hề phai mờ đi.
  519. Aaron bắt đầu quan tâm tới các viện nơi
    phát hành các bài nghiên cứu khoa học.
  520. Bằng phẩm giá là sinh viên của một trường hàng đầu
    của Hoa Kỳ, tôi mặc định các bạn được truy cập
  521. vào nhiều loại nghiên
    cứu khoa học khác nhau.
  522. Nói chung mỗi trường đại học lớn tại Hoa Kỳ đều
    đã phải trả một phí bản quyền cho các tổ chức như
  523. JSTOR và Thompson Isi để được truy cập vào các bài báo
    khoa học và phần còn lại của thế giới không được đọc.
  524. Những bài báo và nghiên cứu khoa học này thực chất là
    tài sản chung của toàn nhân loại được lưu trữ trên mạng
  525. và có thể đã được trả bởi tiền
    thuế hoặc tài trợ của chính phủ
  526. nhưng để đọc chúng, bạn thường phải trả phí lần
    nữa cho các nhà xuất bản như Reed-Elsevier.
  527. Những chi phí bản quyền này quan trọng tới nỗi
    những sinh viên học tại Ấn Độ, thay vì tại Hoa Kỳ
  528. không hề có quyền truy cập này. Họ hoàn toàn bị
    nhốt bên ngoài khỏi tất cả những nghiên cứu này.
  529. Họ đã bị gạt ra khỏi toàn bộ
    di sản khoa học của chúng ta.
  530. Ý tôi là, nhiều trong số những bài báo khoa học
    này đã được thực hiện từ Kỷ nguyên Khai Sáng
  531. Cứ mỗi khi có ai đó viết một bài báo khoa học, nó
    đều được quét, số hoá và cho vào bộ sưu tập này.
  532. Đây là di sản được mang tới cho chúng ta từ công việc của những
    người có đam mê với tri thức, một lịch sử huy hoàng của khoa học.
  533. Đây là di sản đáng thuộc về toàn nhân loại,
  534. nhưng thay vào đó, nó đã bị khoá lại và cho lên
    mạng bởi một nhóm các tập đoàn kinh doanh tư bản
  535. những kẻ muốn kiếm được
    tối đa lợi nhuận từ nó.
  536. Vậy là một nhà nghiên cứu được trả tiền bởi trường
    đại học hoặc người dân công bố một bài nghiên cứu
  537. và ở giai đoạn cuối cùng của quá trình,
    sau khi mọi công việc đã được hoàn thiện
  538. sau khi mọi nghiên cứu đã kết thúc - nát óc nghĩ ra ý tưởng,
    thí nghiệm trong lab, phân tích, tóm lại là tất cả đã xong
  539. vào chính cái giai đoạn cuối cùng đó, người nghiên cứu
    phải trao lại bản quyền cho các công ty nhiều tỉ đô la.
  540. Quá bệnh! Đây là một nền kinh tế được xây
    dựng hoàn toàn trên công sức tình nguyện
  541. và rồi các nhà xuất bản chỉ việc ngồi ở trên cùng
    và hưởng lợi nhuận từ việc bán các nghiên cứu đó.
  542. Nói về chuyện kiếm tiền thiếu lương tâm. Một nhà xuất
    bản ở Anh Quốc đã kiếm được 3 tỉ đô la năm ngoái.
  543. Thật là một trò buôn bán đê tiện!
  544. JSTOR chỉ là một nhân vật rất
    nhỏ trong câu chuyện này
  545. nhưng vì một vài lý do nào đó, JSTOR
    đã được Aaron chọn để công kích.
  546. Cậu ấy đã đi tới một số hội thảo
    về Truỵ cập mở và Xuất bản mở
  547. và tôi không biết ai là người tới từ JSTOR
  548. nhưng tôi đoán rằng Aaron đã hỏi
  549. “Để mở JSTOR mãi mãi cần
    tốn bao nhiêu tiền?”
  550. Và họ đã trả lời rằng
    khoảng 200 triệu đô la
  551. một con số mà Aaron cho rằng quá lố bịch.
  552. Đang theo học tại Harvard, cậu ấy biết những người dùng
    của mạng internet rất nhanh và mở bên MIT ngay cạnh đó
  553. đã có được quyền truy cập vào JSTOR.
    Swartz nhìn thấy ngay cơ hội.
  554. Bạn có được chìa khoá
    để tới các cánh cửa đó
  555. và chỉ cần một chút phép thuật từ các dòng lệnh
    bạn có thể lấy được các bài báo khoa học đó.
  556. Vào ngày 24 tháng 9 năm 2010
  557. Swartz đăng ký một chiếc
    laptop ACER cậu vừa mua
  558. vào mạng của MIT, dưới
    cái tên là Garry Host.
  559. Tên của người dùng được
    đăng ký là “Ghost laptop”.
  560. Cậu ấy không hack JSTOR theo
    nghĩa truyền thống về hack.
  561. Cơ sở dữ liệu của JSTOR
    được tổ chức ngay ngắn
  562. cho nên rất đơn giản để có thể tải xuống
    tất cả những bài báo khoa học trong JSTOR
  563. bởi vì tất cả chúng đều được đánh số.
  564. Nó đều có dạng gạch chéo gạch chéo gạch chéo…
    số thứ tự bài báo 444024 và -25 và -26.
  565. Cậu ấy viết một đoạn lệnh bằng ngôn ngữ Python
    có tên là keepgrabbing. pi (cứthếlấy.pi)
  566. tức là liên tục lấy các bài báo khoa học.
  567. Ngày hôm sau, chiếc máy tính GHost
    bắt đầu tải xuống các bài báo
  568. nhưng ngay lập tức địa chỉ IP của chiếc GHost bị chặn.
    Đối với Swartz thì nó chỉ giống như gặp ổ gà trên đường.
  569. Cậu ấy nhanh chóng đổi IP cho
    GHost và tiếp tục tải xuống.
  570. JSTOR và MIT đã sử dụng một
    số biện pháp để ngăn cản
  571. khi họ nhận ra điều gì đang xảy ra
  572. và khi nhiều biện pháp không có hiệu nghiệm
  573. JSTOR đã cắt kết nối của MIT vào
    cơ sở dữ liệu của JSTOR.
  574. Chúng ta có một trò mèo đuổi chuột ở đây
  575. tìm cách để được truy cập vào
    cơ sở dữ liệu của JSTOR.
  576. Aaron hiển nhiên là mèo vì
    cậu ấy giỏi kỹ thuật hơn
  577. những người bên cơ sở dữ liệu của
    JSTOR đang tìm cách phòng thủ.
  578. Cuối cùng, có một phòng máy chủ ở nhà kho
    ở trong một trong số các toà nhà
  579. và cậu tới thẳng đó, thay vì vào mạng WiFi, và
    cắm trực tiếp chiếc laptop của cậu vào mạng
  580. và để nó ở đó cùng với một chiếc ổ
    cứng cắm ngoài để tải tài liệu xuống.
  581. Nhà chức trách đã tìm được chiếc
    laptop của Aaron mà cậu không biết.
  582. Họ đã không dừng việc tải xuống lại.
  583. Mà thay vào đó, họ gắn một
    chiếc camera theo dõi.
  584. Họ đã tìm thấy chiếc laptop
    trong nhà kho của toà nhà MIT.
  585. Họ đã có thể rút nó ra. Họ đã
    có thể đợi cậu ấy tới và nói
  586. “Này cậu kia, cậu đang làm gì
    thế, dừng lại đi. Cậu là ai?”
  587. Họ đã có thể làm tất cả những
    thứ này nhưng họ đã không.
  588. Điều họ muốn làm đó là ghi hình lại
    để có bằng chứng nhằm khởi tố cậu ấy.
  589. Đó là lý do duy nhất khi
    bạn ghi hình kiểu như vậy.
  590. Lúc đầu, người xuất hiện
    trong camera theo dõi
  591. chỉ là một người vào cất thùng và chai lọ.
  592. Nhưng nhiều ngày sau nó đã
    ghi hình lại được Swartz.
  593. Swartz thay thế ổ cứng ngoài.
    Cậu ấy lấy nó ra khỏi ba lô
  594. ra khỏi camera khoảng 5 phút
  595. và rồi rời khỏi đó.
  596. Và rồi họ tổ chức một buổi phục kích,
    khi cậu ấy đang đạp xe về nhà từ MIT
  597. những viên cảnh sát này
    đi ra từ phía bên đường
  598. học chỗ nào đó khác và bắt
    đầu đuổi theo cậu ấy.
  599. Nó kể lại rằng nó đã bị
    tấn công bởi cảnh sát.
  600. Nó nói với tôi rằng lúc đó nó không biết
    chắc cảnh sát đang vây bắt nó.
  601. Nó chỉ nghĩ rằng ai đó đang
    muốn tấn công nó thôi.
  602. Nó còn nói với tôi rằng họ đã đánh nó.
  603. Thực sự đó là một điều kinh khủng. Ý nghĩ rằng
    ai đó trong gia đình tôi bị phạm tôi hay ra toà
  604. là một điều rất xa lạ, khó hiểu
    và tôi không biết phải làm gì.
  605. Và thế là họ đã thực hiện lệnh khám ở nhà của Aaron, nhà
    bố mẹ cậu ở Cambridge và văn phòng của cậu ở Harvard.
  606. Hai ngày trước vụ bắt bớ, cuộc điều tra đã vượt
    ra khỏi JSTOR và cảnh sát khu vực ở Cambridge.
  607. Nó đã được chuyển giao cho
    Cơ quan mật vụ Hoa Kỳ.
  608. Cơ quan mật vụ bắt đầu điều tra tôi phạm máy
    tính và làm giả thẻ tín dụng vào năm 1984
  609. nhưng 6 tuần sau vụ tấn công 11 tháng 9
    nhiệm vụ của họ đã được mở rộng thêm.
  610. [applause]
  611. Tổng thống Bush sử dụng Đạo luật Yêu Nước (The Patriot Act) để
    thiết lập một mạng lưới gọi là “Đội chống tội phạm điện tử”.
  612. Đạo luật ngay trước mặt tôi đây giúp chúng ta đối phó với
    những thực tế và nguy hiểm mới tới từ khủng bố thời hiện đại.
  613. Theo Cơ quan mật vụ, họ chủ yếu làm việc với
    những hoạt động có tính ảnh hưởng kinh tế
  614. được tổ chức bởi các tổ nhóm tội
    phạm hoặc có sử dụng công nghệ mới.
  615. Cơ quan mật vụ chuyển vụ án của Swartz
    qua văn phòng Công tố Hoa Kỳ tại Boston.
  616. Có một gã trong văn phòng
    Công tố Hoa Kỳ với chức danh:
  617. “Trưởng ban Lực lượng
    chống Tội phạm máy tính”
  618. Tôi không biết ông ta có những gì
  619. nhưng chắc bạn bạn không thể là một “Công tố viên tội phạm vi
    tính” nếu thiếu đi một tội liên quan tới vi tính để khởi tố
  620. thế là ông ta lấy hồ sơ vụ án và giữ lấy cho riêng mình,
    không giao nó cho ai khác trong văn phòng hay bộ phận
  621. và đó là Steve Heymann.
  622. Công tố viên Heymann đã khá kín
    tiếng từ sau vụ bắt Aaron Swartz
  623. nhưng ông ta có thể được trông thấy ở đây, trong
    một số của xê-ri truyền hình “Lòng tham nước Mỹ”
  624. được quay trong khoảng
    thời gian Aaron bị bắt.
  625. Ông ta đang mô tả vụ án trước đó của ông ta khởi tố
    một hacker khét tiếng có tên là Alberto Gonzales
  626. một vụ án mà mang lại cho Heymann rất nhiều sự chú ý của
    báo giới và cả những lời khen ngợi cùng thăng tiến.
  627. Gonzales đã ăn trộm hàng trăm
    triệu thẻ tín dụng và số ATM
  628. một vụ trộm lớn nhất trong lịch sử.
  629. Trong video này, Heymann mô tả Gonzales, nói lên
    quan điểm của ông ta về sự tư duy của các hacker:
  630. Những kẻ này bị điều khiển bởi
    nhiều thứ như chúng ta thôi.
  631. Chúng có lòng tự cao, thích thử thách, và tất nhiên chúng
    thích tiền và mọi thứ có thể mang tiền cho chúng nó.
  632. Một trong số những nghi phạm trong vụ án Gonzales
    là một hacker trẻ tuổi có tên là Jonathan James.
  633. Tin rằng tội của Gonzales
    có thể bị gán cho mình
  634. cậu đã tự tử trong quá
    trình điều tra vụ án này.
  635. Trong một buổi họp báo sớm về quan điểm của
    chính phủ trong vụ án của Aaron Swartz
  636. Xếp của Heymann, Công tố viên trưởng của
    bang Massachusets Carmen Otiz nói rằng:
  637. “Ăn trộm tức là ăn trộm, cho dù bạn
    dùng những dòng lệnh hay là xà beng
  638. và dù là lấy trộm tài liệu hay là tiền.”
  639. Điều này không đúng. Rõ ràng là không đúng.
  640. Tôi không nói rằng nó vô hại
  641. và tôi không nói rằng chúng ta không
    nên quy tội cho việc ăn trộm thông tin
  642. nhưng bạn cần phải rành mạch và cụ thể hơn
  643. trong khi định nghĩa chính xác loại thông tin
    nào thì là nguy hại và loại nào thì không.
  644. Tóm lại, với một cái xà beng, mỗi lần tôi
    đột nhập vào một nơi nào đó bằng xà beng
  645. tôi phá hoại cái gì đó.
    Chắc chắn là như thế.
  646. Nhưng khi Aaron soạn một
    chương trình cho phép
  647. tải xuống hàng trăm lần mỗi giây
    thì chẳng gây hại tới ai cả
  648. chẳng có tổn hại rõ ràng gì tới ai cả.
  649. Nếu cậu ta làm điều đó để thu thập tài liệu
    để làm nghiên cứu
  650. thì sẽ chẳng có nguy hại gì tới bất cứ ai.
  651. Cậu ấy không ăn trộm. Cậu ấy cũng chẳng bán những
    thứ cậu ấy lấy được hay cho không chúng đi.
  652. Cậu ấy chỉ đang muốn nhấn mạnh một
    điều, theo quan điểm của tôi.
  653. Vụ bắt bớ đã tác động mạnh lên Swartz.
  654. Anh ấy không muốn nói về điều đó.
  655. Ý tôi là anh ấy rất khủng hoảng.
  656. Nếu bạn luôn có ý nghĩ rằng FBI đang trên đường
    và có thể đỗ xe bên cạnh nhà bạn bất cứ lúc nào
  657. khi bạn đang đi dạo, hay đang giặt quần áo
  658. họ có thể lẻn vào nhà vì bạn để cửa mở
  659. tóm lại là nếu là tôi…tôi
    cũng căng thẳng không kém
  660. điều này khá rõ ràng và do đó Aaron
    lúc nào cũng trong tâm trạng tồi tệ.
  661. Anh ấy không hé lộ những thông tin nhạy cảm về nơi
    ăn chốn ở của anh ấy trong khoảng thời gian này
  662. bởi vì anh ấy rất sợ rằng FBI chỉ
    đang chờ để bắt anh ấy thôi.
  663. Đó là thời điểm tiền lệ hết sức nhạy cảm
    về các phong trào xã hội và chính trị.
  664. Tạp chí Time sau đó đã vinh danh Người
    của năm 2011 là “Người biểu tình”.
  665. Có rất nhiều điểm nóng về các
    hoạt động hacker diễn ra.
  666. WikiLeaks đã tiết lộ nhiều
    thông tin ngoại giao nhạy cảm
  667. Manning (nhân viên phân tích
    tình báo) đã bị bắt vào lúc đó
  668. tuy rằng không rõ có phải anh ta là
    người tiết lộ thông tin hay không.
  669. Anonymous - một nhóm biểu tình có
  670. hacker cao thủ
  671. đã có nhiều hành động gây
    đau đầu nhà chức trách.
  672. Nếu bạn so sánh những điều
    này với điều Swartz làm
  673. thì vụ này chỉ nên để MIT và
    JSTOR giải quyết với nhau thôi
  674. giữa cá nhân với cá nhân
    và công ty với công ty.
  675. Lẽ ra nó không đáng để hệ
    thống tội phạm chú ý tới.
  676. Nó đơn giản không thuộc vào trong đó.
  677. Trước khi khởi tố, Swartz đã được đề nghị
    một thoả thuận
  678. rằng cậu chỉ phải ngồi tù ba tháng,
    trong trại phục hồi nhân phẩm
  679. và một năm quản thúc tại nhà
  680. tất nhiên là phải rời xa máy vi tính.
  681. Với điều kiện là Swartz
    phải thừa nhận tội danh.
  682. Chúng tôi rơi vào thế không biết cụ thể
  683. chính phủ có những gì mà muốn gì
  684. và chúng tôi phải đưa ra
    quyết định rất quan trọng
  685. khi mà luật sư thì thúc bạn đồng ý
  686. chính phủ thì đưa ra yêu
    cầu không thoả thuận
  687. và bạn được bảo rằng khả năng
    thắng của bạn là rất nhỏ
  688. nên cho dù bạn có phạm tội hay không
    thì bạn tốt hơn hết là nhận tội.
  689. Boston có riêng một Ban
    chống tội phạm vi tính
  690. rất nhiều luật sư, có khi
    nhiều hơn mức cần thiết.
  691. Tóm lại, bạn có thể hình dung là ở đây
    có rất nhiều vụ án rất rất khó khởi tố
  692. bởi vì chúng ta có tội phạm từ Nga này
  693. rồi một số người bên trong các tập đoàn
  694. họ sẵn sàng thuê những luật sư với giá
    500 hoặc 700 đô la mỗi giờ
  695. để chống lại bạn, và chúng ta
    lại có một vụ án của một cậu bé
  696. mà khá dễ dàng chứng minh
    rằng cậu đã làm điều gì đó
  697. và nhất là khi cậu đã tự gây rối với FBI
  698. cho nên tại sao lại không cho cậu bé này
    nếm mùi lợi hại càng nhiều càng tốt?
  699. Nó sẽ giúp một công tố viên như bạn.
    Nó giúp cả nền Cộng hoà
  700. vì bạn đang đấu tranh chống
    lại mấy cái kiểu khủng bố.
  701. Tôi đã rất sợ hãi.
  702. Tôi sợ bị tịch thu máy vi tính.
  703. Tôi rất sợ bị đi tù vì máy
    tính của tôi bị tịch thu.
  704. Tôi có tài liệu tối mật từ nguồn của tôi từ
    công việc trước tôi làm
  705. và đó là, ưu tiên của tôi là giữ
    nguồn tin của tôi được an toàn.
  706. Tôi rất sợ vì lỡ có
    chuyện gì xảy ra với Ada.
  707. Aaron họ đã đưa ra cho cậu ấy một đề nghị
  708. và nếu tôi đồng ý thì cậu ấy sẽ làm theo
  709. và tôi đã thực sự rất gần tới
    điểm nói “Hãy đồng ý đề nghị đó”.
  710. Cậu ấy đã nuôi dưỡng một niềm
    đam mê chính trị rất nghiêm túc
  711. trong thời điểm, bạn biết đó
  712. khi cậu ấy kết thúc công việc khởi nghiệp
  713. và bắt đầu một cuộc sống mới,
    cuộc sống của hoạt động chính trị
  714. và cậu ấy không có niềm tin rằng cậu ấy có thể
    tiếp tục cuộc sống của cậu như một kẻ tội phạm
  715. Bạn biết đó, cậu ấy nói với tôi rằng,
    khi chúng tôi bước ngang qua Nhà Trắng:
  716. “Họ không cho tội phạm làm việc ở đây.”
  717. Và cậu ấy thực sự muốn
    điều đó trong cuộc đời.
  718. Nó chưa hề giết ai. Nó
    cũng chưa hề làm ai đau.
  719. Nó chưa hề ăn trộm tiền.
  720. Nó chưa hề làm điều gì
    trông có vẻ như tội phạm
  721. và hiển nhiên chẳng có việc gì
    nó phải bị dán cái nhãn tội phạm
  722. và lấy đi quyền được bầu
    cử của nó ở nhiều Bang
  723. vì làm những việc mà nó đã làm.
    Không thể chấp nhận được!
  724. Sẽ có lý hơn nếu nó chỉ phải
    chịu một khoản tiền phạt lớn
  725. hoặc bị buộc không được quay lại MIT nữa.
  726. Nhưng trở thành một tội phạm?
    Đối mặt với án tù?
  727. Swartz đã không nhận tội để được giảm án.
  728. Nên Heymann đã rất bực
    tức và càng điên tiết.
  729. Heymann tiếp tục gây áp lực
    lên chúng tôi bằng mọi cách
  730. Thậm chí với những chứng cứ
    chiếm đoạt từ chiếc máy tính
  731. Acer và USB của Aaron
  732. Ủy viên công tố cần bằng
    chứng về động cơ của anh ấy
  733. Tại sao Aaron Swartz lại
    tải những bài báo từ JSTOR
  734. và anh ta dự định dùng chúng vào việc gì?
  735. Chính phủ tin rằng Aaron dự dịnh
    sẽ công bố những bài báo đó
  736. Chúng ta không biết mục đích
    chính xác của cậu ấy là gì
  737. Bởi vì trong quá khứ Aaron cũng đã từng làm nhiều dự án
    phải phân tích một cơ sở dữ liệu khổng lồ các bài báo
  738. để học hỏi những điều thú vị từ chúng.
  739. Chứng cứ tốt nhất đó là
    khi cậu ấy ở Stanford
  740. Aaron cũng đã tải xuống toàn bộ cơ
    sở dữ liệu tư pháp của Westlaw.
  741. Trong một dự án với sinh
    viên luật trường Stanford
  742. Swartz đã tải xuống cơ sở
    dữ liệu tư pháp của Westlaw
  743. Cậu ấy đã làm hé lộ những mối liên hệ kỳ lạ giữa
    những người tài trợ tiền nghiên cứu về luật
  744. và những kết quả có lợi cho họ.
  745. Cậu ấy đã làm phép phân tích tuyệt vời này
    về các công ty tư bản
  746. chuyên cấp tiền cho các giáo sư luật để
    viết những bài báo review về luật
  747. mà sẽ có lợi về sau này, như
    Exxon trong sự cố tràn dầu.
  748. Đây là một hệ thống hủ bại, anh
    biết đấy, nghiên cứu hư danh.
  749. Swartz chưa bao giờ công bố những
    tài liệu tư pháp của Westlaw.
  750. Về lý thuyết, cậu ấy có thể làm như
    vậy với cơ sở dữ liệu của JSTOR
  751. Nếu thế thì mọi chuyện hoàn toàn ổn.
  752. Mặt khác, nếu cậu ấy có ý định tạo nên
    một dịch vụ cạnh tranh với JSTOR
  753. kiểu như xây dựng thứ của
    riêng mình, bạn biết đấy,
  754. truy cập vào Harvard Law Review và
    bạn biết đấy, thu tiền cho việc đó
  755. thì đúng là việc đó trông
    giống một hành vi phạm pháp
  756. bởi vì anh có ý định kiếm
    tiền từ những dữ liệu này
  757. nhưng thật là điên rồ khi tưởng tượng rằng
    đó là những việc cậu ấy sẽ làm.
  758. Nhưng lại còn khả năng ở giữa đó là: sẽ thế nào nếu cậu ấy
    đem tặng hết tài liệu này cho các quốc gia đang phát triển?
  759. Tóm lại điều cậu ấy định làm có tính chất
    quyết định tới hình ảnh của cậu ấy
  760. trong mắt của luật pháp.
    Chính phủ đã khởi tố cậu
  761. như đây là một hành vi phi
    pháp mang tính thương mại
  762. giống việc ăn cắp thông tin trong thẻ tín dụng
    đây chính là kiểu tội họ đang gán cho cậu ấy.
  763. Tôi không biết cậu ấy định làm gì với
    khối cơ sở dữ liệu đó
  764. Nhưng tôi nghe từ một người
    bạn của cậu kể lại rằng
  765. Aaron định phân tích số dữ liệu này để tìm bằng chứng về
    việc tài trợ nghiên cứu thay đổi khí hậu của các tập đoàn
  766. và dẫn tới kết quả sai lệch, có lợi cho họ
    và tôi hoàn toàn tin vào lời kể lại này.
  767. Tôi được bảo rằng Steve
    muốn nói chuyện với tôi
  768. và tôi nghĩ đây có thể là một
    lối thoát khỏi chuyện này
  769. chỉ cần thoát khỏi hoàn cảnh này
  770. và tôi không muốn sống trong nỗi sợ rằng
    chiếc máy tính của mình sẽ bị tịch thu.
  771. Tôi không muốn sống trong
    nỗi sợ sẽ phải ngồi tù
  772. nếu họ ép buộc tôi phải giải
    mã thông tin trong máy tính.
  773. Khi họ tới gặp tôi và nói
    "Steve muốn nói chuyện với cô”
  774. điều đó nghe có vẻ hợp lý.
  775. Họ đã đề nghị Norton một ưu ái
    có tên là “Nữ hoàng trong 1 ngày”
  776. Nó cho phép Ủy viên công tố đưa ra những
    câu hỏi về vụ án của Aaron.
  777. Norton sẽ được miễn trừ khỏi bị điều tra
  778. cho bất cứ thông tin nào
    cô tiết lộ trong cuộc gặp.
  779. Tôi không thích điều này. Tôi đã lặp
    đi lặp lại với luật sư của tôi rằng
  780. tôi không thích... việc này thật ám muội.
    Tôi không muốn được miễn án
  781. Tôi không cần điều đó, tôi
    chả làm bất cứ chuyện gì
  782. Nhưng họ vẫn khăng khăng tin rằng có gì đó
  783. họ không muốn tôi đối mặt với Ủy viên
    công tố mà không có quyền miễn án
  784. Nhưng để rõ ràng hơn, đây là lời đề nghị
    “Nữ hoàng trong một ngày”, một bức thư mời.
  785. Đúng thế, một bức thư đề nghị.
  786. Về cơ bản cô được bảo vệ khỏi việc điều tra
    khi cô cung cấp thông tin
  787. Đó không hẳn là việc cung cấp thông tin.
    Như tôi biết thì đó là
  788. chỉ là việc có một cuộc nói chuyện,
    một cuộc phỏng vấn với họ.
  789. - Và họ hỏi cô một số câu hỏi
    - Họ đã hỏi tôi một số câu hỏi.
  790. - Và họ có thể hỏi bất cứ câu nào họ muốn...
    - Đúng thế.
  791. - Và bất cứ thứ gì họ biết được được...
    - Tôi thực sự...
  792. - Thì họ không thể khởi tố cô được.
    - Đúng, và tôi lặp đi lặp lại không cần gì cả.
  793. Tôi liên tục-liên tục cố gắng
    từ chối là thư đề nghị đó.
  794. Tôi bị ốm. Tôi bị chính những
    luật sư của tôi gây áp lực.
  795. Và tôi cảm thấy bối rối.
    Tôi cảm thấy mình không còn đủ tỉnh táo.
  796. Tôi bị trầm cảm, và sợ hãi. Tôi thực sự
    không hiểu tình huống mà mình đang rơi vào.
  797. Tôi không biết lý do gì
    mình rơi vào tình cảnh này.
  798. Tôi chưa từng làm điều gì ngỗ
    ngược, sai trái thì còn xa.
  799. Chúng tôi cảm thấy như bị phát điên
  800. Aaron hiển nhiên cảm thấy rất quẫn trí. Chúng
    tôi cảm thấy vô cùng quẫn trí về việc này.
  801. Luật sư của Aaron cũng cảm thấy như vậy.
  802. Chúng tôi đã cố thay đổi luật sư cho Quinn
  803. Tôi không quen ngồi trong những căn phòng có
    nhiều người đàn ông cao lớn và vũ trang tận răng
  804. và luôn phán rằng tôi đang nói dối
    rằng bạn đã làm điều gì đó xấu.
  805. Tôi nói với họ rằng việc mà
    họ đang cố gắng khởi tố
  806. không phải là một tội.
  807. Tôi bảo họ rằng họ đang đứng
    sai phía của câu chuyện.
  808. Tôi sử dụng cụm đó. Tôi nói “Các anh
    đang đứng trên lề trái của câu chuyện.”
  809. Và họ trông chán nản. Họ thậm chí còn không
    có vẻ tức giận. Họ chỉ trông chán ngán
  810. Và đó là lúc tôi nhận ra chúng tôi
    không hề có một cuộc trò chuyện.
  811. Ý tôi là, tôi nói với họ rất nhiều thứ về tại sao
    người ta lại tải xuống những bài báo chuyên môn đó
  812. và cuối cùng, tôi chả nhớ có gì nữa
  813. Tôi đã nhắc tới việc cậu ấy tạo ra blog này
    “Tuyên ngôn truy cập mở Guerilla".
  814. Đây là “Tuyên ngôn truy cập mở Guerrilla"
  815. Hình như được viết vào
    tháng 7 năm 2008 tại Ý.
  816. "Thông tin là sức mạnh. Nhưng như tất cả những loại sức
    mạnh khác, có những người cố giữ chúng cho riêng mình."
  817. "Toàn bộ di sản về khoa học và văn hóa của thế giới được
    ghi lại qua nhiều thế kỷ và xuất bản qua sách và báo
  818. đang được số hóa ngày càng nhiều và chúng
    đã rơi vào tay những tập đoàn tư nhân."
  819. "Trong khi đó, những người bị chặn khỏi nguồn
    tri thức nhân loại này không hề ngồi yên.”
  820. Đã có những người lẩn qua những cái cống
    và trèo qua những hàng rào
  821. để giải phóng thông tin đang nằm trong tay những
    nhà xuất bản và chia sẻ chúng với bạn bè mình."
  822. "Nhưng tất cả những hành động này đều
    làm trong bóng tối, một cách lén lút."
  823. “Nó bị gọi với cái tên là ăn trộm hoặc ăn
    cướp cứ như thể chia sẻ kho tàng tri thức là
  824. giống như với việc cướp một chiếc tàu
    và giết hết thủy thủ đoàn.
  825. Nhưng chia sẻ thì không trái đạo đức -
    đó là một sự hối thúc của đạo đức.
  826. Chỉ có những kẻ mờ mắt vì lòng tham mới
    từ chối chia sẻ cho bạn mình một bản sao.
  827. Không có sự công bằng trong những
    điều luật bất công kia
  828. Đã đến lúc đưa mọi việc ra ánh sáng và trong
    một truyền thống vĩ đại của sự bất tuân dân sự
  829. tuyên bố thái độ đối lập của chúng ta với
    những kẻ tư bản trộm cướp văn hoá đại chúng.
  830. Manifesto được cho là soạn thảo bởi 4 người
    và cũng được chỉnh sửa bởi Norton.
  831. Nhưng chính Swartz là người ký tên vào
  832. Khi mọi chuyện xong xuôi, tôi ngay lập tức chạy tới
    Aaron và kể với cậu ấy mọi chuyện tôi nhớ được
  833. Và cậu ấy trở nên rất tức giận.
  834. Mọi chuyện tôi đã làm lẽ ra không
    gây ra hậu quả như thế.
  835. Tôi thực sự chưa làm điều gì sai
    nhưng mọi chuyện đã không đi đúng hướng.
  836. Nhưng tôi đã không bao giờ...
  837. Tôi vẫn còn đang ấm ức.
  838. Tôi vẫn ấm ức vì mình đã cố gắng hết sức để
    thuyết phục họ làm điều đúng đắn
  839. vậy mà họ lại dùng mọi thứ
    họ có để chống lại mình.
  840. Và họ sẽ làm mình tổn thương
    bằng mọi cách có thể.
  841. Trong khoảnh khắc đó, tôi hối hận
    rằng tôi đã nói ra những điều đó.
  842. Nhưng tôi còn hối hận nhiều hơn khi
    chúng ta đã để mặc chuyện này tồn tại.
  843. Rằng chúng ta chấp nhận thực tại.
  844. Rằng chúng ta chấp nhận hệ thống công lý
  845. một hệ thống cố gắng bẫy mọi người rơi vào những
    cái hố vô hình nhằm hủy hoại cuộc sống chúng ta.
  846. Nên đúng thế, tôi ước rằng
    mình chưa từng nói điều này.
  847. Nhưng tôi cảm thấy bực hơn rất nhiều
    vì trạng thái của tôi ở hiện tại.
  848. Cái trạng thái mà tất cả
    chúng ta cho là bình thường.
  849. Họ sử dụng mọi phương
    thức mà họ có thể nghĩ ra
  850. để cô ấy cung cấp những thông
    tin không có lợi cho Aaron
  851. và thuận lợi cho việc khởi tố
  852. nhưng tôi không nghĩ cô ấy có những
    thông tin có ích cho chính phủ.
  853. Hàng tháng qua đi, bạn bè và gia đình Swartz
    phải đợi chờ một bản cáo trạng bất thình lình.
  854. Trong lúc đó, Swartz đã trở thành một chuyên gia về
    hàng chuỗi những vấn đề liên quan đến mạng internet.
  855. [Phỏng vấn viên RT]...một câu hỏi cho anh: Anh
    có nghĩ rằng mạng internet là một thứ gì đó
  856. nên được công nhận như một quyền con người và
    chính phủ không thể tước đoạt khỏi chúng ta?
  857. Đúng thế, hiển nhiên là như vậy, ý tôi là quan điểm về
    an ninh quốc gia chỉ là một cái cớ để chặn mạng internet
  858. đây chính là những cái chúng ta thường nghe
    tại Ai cập, Syria và những quốc gia tương tự
  859. và, đúng, điều đó đúng, những website như Wikileaks
    đang ngày càng phơi bày những điều đáng xấu hổ
  860. về những việc mà chính phủ Mỹ làm, và tiếp
    theo là người dân sẽ tổ chức biểu tình
  861. và cố gắng thay đổi chính quyền của họ.
    Cô biết đấy, đây là điều đúng đắn
  862. đó là những gì mà Tu chánh án Thứ nhất về
    việc tự do biểu hiện, tự do liên kết nói tới
  863. vì thế việc đóng cửa những web đó chỉ đi ngược
    lại những nguyên tắc rất cơ bản của Hoa Kỳ.
  864. The Founding Fathers của chúng ta sẽ
    hiểu rõ thế nào là một Nguyên tắc.
  865. Nếu internet có mặt vào cái thời xa xưa ấy
  866. họ sẽ không cố đưa chúng ta quay lại thời thư tay
    mà sẽ cổ suý nhiều hơn nữa các nhà cung cấp mạng.
  867. [Phỏng vấn viên RT]Điều
    này khá là thú vị...
  868. Swartz gặp nhà hoạt động xã hội Taren
    Stinebrickner-Kauffman và cả hai bắt đầu hẹn hò.
  869. [Aaron]Chúng ta cần một làn sóng
    biểu tình trên toàn thế giới.
  870. [Taren] Nếu không có những làn sóng biểu
    tình như vậy sẽ chẳng có thay đổi nào.
  871. Cô biết đấy, bốn người trong thành phố này
    có thể tạo ra một làn sóng như thế.
  872. Anh biết đấy, chúng ta cần
    một lá đơn kiến nghị.
  873. Không quá cụ thể, cậu ta chỉ cảnh báo với cô
    ấy rằng cậu đang dính lứu tới một số chuyện
  874. mà cậu gọi là 'Chuyện xấu'.
  875. Và thế là tôi tưởng tượng đủ thứ điên rồ, như việc anh ấy đang
    có quan hệ với Elizabeth Warren hay những chuyện tương tự.
  876. Tôi đoán là cả Hillary Clinton
    và Elizabeth Warren, nhưng...
  877. Thế là khoảng vào cuối
    tháng 7, Aaron gọi cho tôi
  878. và khi nghe máy, anh ấy nói rằng, “Chuyện xấu
    ấy có thể xuất hiện trên bản tin vào ngày mai.
  879. Em có muốn anh nói ra ngay bây giờ không
    hay em muốn đọc nó trên bản tin?"
  880. Và tôi đáp, "Em muốn anh kể cho em nghe.”
  881. Aaron nói, "Anh đã bị bắt…
  882. vì đã tải xuống rất nhiều những bài báo chuyên môn
    và họ muốn lấy anh ra như một ví dụ để làm gương."
  883. Và tôi đáp lại, "Thật sao? Đây chính là
    chuyện lớn đó ấy hả? Chả có gì to tát cả."
  884. Vào 14 tháng 7 năm 2011, Ủy viên công tố
    liên bang buộc tội Swartz vì 4 tội danh.
  885. Anh ấy bị buộc tội cùng ngày với hai
    người Anh ở vùng Lulzsec đã bị bắt
  886. và một vài những hacker thực thụ. Và Aaron
    chỉ là một người trông giống một hacker
  887. chỉ đủ để cho họ, anh biết đấy,
    treo đầu anh ấy lên làm gương.
  888. Aaron đầu hàng, và họ đã bắt nó.
  889. Rồi họ lột hết quần áo nó ra để khám
  890. lấy đi đến cả dây giày, thắt lưng
    rồi giam nó vào một phòng riêng biệt.
  891. Tòa án Massachusett tuyên bố
  892. "Swartz đối mặt với mức
    án lên đến 35 năm tù
  893. sau đó bị giám sát thêm 3 năm
  894. và phải đóng một khoản phạt
    lên đến một triệu đô."
  895. Cậu ấy được bảo lãnh
    bằng một trăm nghìn đô.
  896. Cùng ngày, bên nguyên
    chính trong vụ này, JSTOR
  897. đã chính thứ huỷ mọi cáo buộc chống lại
    Swartz và từ chối theo đuổi vụ kiện.
  898. JSTOR - họ không phải bạn của chúng tôi họ
    không tỏ ra giúp đỡ hay thân thiện với bọn tôi
  899. nhưng họ cũng đã thể hiện rằng "Bọn
    tôi không liên quan đến việc này."
  900. JSTOR, và công ty mẹ của họ, ITHAKA cũng từ
    chối yêu cầu xuất hiện trong bộ phim này.
  901. Nhưng vào lúc đó, họ đưa ra tuyên bố rằng
  902. “Việc khởi tố hay không là do
    chính phủ, không phải JSTOR."
  903. Và thế nên chúng tôi tin rằng
    vụ việc sẽ sớm kết thúc.
  904. Rằng chúng tôi có thể khiến Steve Heymann từ bỏ
    vụ này, hoặc thoả thuận một cách có tình có lý.
  905. Nhưng chính phủ đã từ chối.
  906. Vì sao?
  907. Tôi nghĩ vì họ muốn lấy Aaron làm gương
  908. và họ nói rằng họ muốn
  909. tiếp tục bước kết tội và ngồi tù.
  910. Họ muốn sử dụng vụ này như một vụ để
    răn đe. Họ nói với chúng tôi như vậy.
  911. [Phỏng vấn viên]- Họ nói với
    ông như vậy sao? - Phải.
  912. - Đây sẽ là một ví dụ răn đe sao?
    - Phải.
  913. - Cậu ấy sẽ bị đưa ra làm gương?
    - Phải.
  914. Steve Heymann nói vậy
  915. Răn đe ai? Ngoài kia có mấy người
    hack vào hệ thống của JSTOR
  916. và tải báo xuống để tạo nên một lời tuyên bố mang tính
    chính trị? Ý tôi là, chính phủ đang muốn răn đe ai?
  917. Sẽ dễ hiểu bộ máy của Obama hơn
  918. khi với mục đích răn đe
  919. nếu bộ máy này
  920. khởi tố tội ác kinh tế lớn nhất
  921. mà đất nước này chứng kiến
    trong một trăm năm qua.
  922. Những tội dẫn đến khủng
    hoảng kinh tế tại Phố Wall.
  923. Khi anh bắt đầu triển khai
  924. cái ý tưởng về sự răn đe
  925. anh chỉ chọn lựa vụ án
  926. về vi phạm pháp luật
  927. và anh sử dụng ngay quyền lực hành pháp
  928. nhằm vào lý tưởng chính trị
  929. thì điều này không chỉ phi dân chủ mà
    đó còn là một điều phi Mỹ.
  930. Ủy viên công tố Stephen Heymann được cho rằng
    sau đó đã nói với hội đồng cố vấn của MIT
  931. rằng giọt nước mà làm tràn ly
  932. là một bài báo được công bố bởi một tổ chức do Swartz
    lập ra có tên "Demand Progress" (Yêu cầu tiến bộ).
  933. Theo như bên MIT, Heymann đã phản ứng lại
  934. gọi đó là "một chiến dịch internet hoang
    dại” và là "một bước đi ngu ngốc"
  935. thay đổi bản chất từ một vụ việc cá nhân
    lên thành mang tính có tổ chức.
  936. Và đó là một sự kết hợp nguy hiểm:
    một Ủy viên công tố không muốn mất mặt
  937. người có thể có một tương lai chính trị sáng lạn
    và không muốn việc này bị lôi ra sau khi kết thúc.
  938. Anh dùng bao nhiêu tiền thuế để bắt giữ một
    ai đó lấy quá nhiều sách ra khỏi thư viện
  939. và rồi để bị bôi nhọ ngay trước toà?
    Không đời nào!
  940. Sau đó tôi cố gắng gây càng nhiều áp lực
    lên MIT càng tốt bằng nhiều cách để cho họ
  941. yêu cầu chính quyền từ bỏ vụ này.
  942. [Phỏng vấn viên] Phản ứng của MIT là gì?
  943. Dường như không có phản
    ứng gì cụ thể từ MIT.
  944. MIT không bảo vệ Aaron.
  945. Điều này đối với những người nằm trong
    cộng đồng MIT, dường như khá vô nhân đạo
  946. bởi vì MIT là một nơi khuyến khích hacking
    như một ý nghĩa lớn lao của thế giới.
  947. Ở MIT, ý tưởng chạy nhảy lung tung, leo lên trần nhà
    chui xuống đường hầm, những nơi bạn không được tới
  948. không phải là một điều cấm kị
    mà nó là một phần thăm quan MIT
  949. và môn phá khóa là một
    khóa học mùa đông tại MIT.
  950. Họ có sức mạnh đạo đức để ngừng chuyện này.
  951. Nhưng MIT chưa bao giờ đứng lên và nói với
    liên bang rằng, "Dừng tay lại."
  952. "Chúng tôi không muốn các anh làm như vậy. Các anh đang
    phản ứng thái quá. Điều này là quá mức cần thiết."
  953. Theo như tôi biết.
  954. Họ cư xử như bất cứ tập đoàn nào.
    Kiểu giúp đỡ chính phủ.
  955. Họ không giúp chúng tôi, trừ khi họ thấy họ bắt buộc
    như vậy, và họ đã chưa bao giờ cố gắng dừng việc đó.
  956. MIT liên tục từ chối yêu
    cầu đưa ra lời bình luận
  957. nhưng sau đó họ công bố một báo cáo nói
    rằng họ cố gắng duy trì vị trí trung lập
  958. và tin ằng Heymann và Tòa án Hoa Kỳ không
    hề quan tâm tới việc MIT nghĩ hay nói gì.
  959. Hành động của MIT dường như rất mâu thuẫn
    với nhân cách của họ.
  960. Có thể hiểu nếu MIT làm ngơ, và điều đó
    hoàn toàn không vấn đề gì
  961. nhưng giữ lập trường trung lập thì khác gì trong
    trường hợp này, đứng về phía Ủy viên công tố.
  962. Nếu anh nhìn vào Steve
    Jobs và Steve Wozniak,
  963. họ đã khỏi đầu bằng việc bán Blue Box, là một thứ
    được thiết kế để đánh lừa các công ty điện thoại.
  964. Nếu anh nhìn vào Bill Gates và Paul Allen
  965. rằng ban đầu họ khởi nghiệp bằng việc sử
    dụng thời gian trên máy tính tại Harvard
  966. rõ ràng là chống lại luật.
  967. Điểm khác nhau giữa Aaron
    và những người tôi vừa nêu
  968. là việc Aaron muốn thế giới trở thành một nơi
    tốt đẹp hơn nó không chỉ muốn kiếm tiền.
  969. Swartz tiếp tục nói về hàng loạt vấn
    đề khác nhau của mạng internet.
  970. Bạn biết đấy, lý do mạng internet hoạt động là
    bởi vì thị trường cạnh tranh của các ý tưởng
  971. và cái chúng ta cần tập trung vào là có thêm thông
    tin về chính phủ của ta, thêm khả năng truy cập.
  972. Thêm thảo luận, tranh luận, nhưng thay vì thế
    dường như Nghị viện đang cố gắng tắt mọi thứ đi.
  973. Aaron nghĩ rằng anh ấy có thể thay đổi thế giới chỉ
    bằng việc giải thích nó thật rõ ràng cho mọi người
  974. Flame hoàn toàn có thể kiểm soát máy
    tính của bạn và khiến nó theo dõi bạn.
  975. Xin chào Aaron, thật vui khi
    thấy anh quay lại chương trình.
  976. Bạn biết đấy, giống hệt như những gián điệp ngày xưa từng
    làm đó là đặt máy nghe lén và ghi âm mọi người đang nói gì
  977. Giờ đây họ dùng máy tính
    để làm những việc tương tự
  978. Những hoạt động chính trị
    của Swartz vẫn tiếp diễn
  979. mối quan tâm của cậu ấy chuyển sang một bộ
    luật nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm tác quyền.
  980. Nó được gọi là "SOPA".
  981. Những nhà hoạt động xã hội như Peter Eckersley
    thấy việc này là một động thái quá đáng
  982. và đe doạ chính tính trung
    thực của mạng Internet.
  983. Và một trong số những việc đầu
    tiên tôi làm gọi cho Aaron.
  984. Và tôi nói, "Chúng ta có thể làm một chiến
    dịch lớn trên mạng chống lại điều này chứ?"
  985. "Đây không phải là một
    đạo luật về bản quyền."
  986. "Nó không phải ư?"
  987. "Không" anh ta nói, "đây là một
    đạo luật về sự tự do kết nối."
  988. Giờ tôi lắng nghe đây.
  989. Và cậu ấy nghĩ về vấn đề này
    một lúc, rồi nói, "Được."
  990. Tiếp đó cậu ấy lập ra Demand
    Progress (Yều cầu tiến bộ).
  991. Demand Progress là một tổ chức hoạt động xã hội trên
    mạng và chúng tôi hiện có khoảng 1,5 triệu thành viên
  992. nhưng chỉ mới bắt đầu từ mùa thu năm 2010.
  993. Aaron là một trong những người
    xuất chúng nhất trong cộng đồng
  994. người đã lãnh đạo tổ chức nhằm vào những vấn
    đề về công bằng xã hội ở tầm liên bang.
  995. SOPA là đạo luật được sinh ra nhằm hạn chế
    sự vi phạm tác quyền của phim và nhạc
  996. nhưng những gì nó làm giống như dùng một
    chiếc búa tạ để thực hiện 1 cuộc phẫu thuật.
  997. Nếu được thông qua, bộ luật sẽ cho phép một công
    ty cắt nguồn tài chính của cả một trang web
  998. hoặc thậm chí bắt Google ngăn chặn
    đường link liên kết đến trang web.
  999. Tất cả những gì họ cần làm
    chỉ là một cú click chuột.
  1000. Nó giúp những người khổng lồ truyền thông
    chống lại một nền văn hóa mới rất phức tạp.
  1001. Nó làm cho tất cả mọi người có trang web
    trở thành một cảnh sát
  1002. và nếu họ không làm việc của mình là khẳng định không
    ai trên trang web đó sử dụng nó vào bất cứ việc gì
  1003. mà chỉ cần có vẻ phạm pháp, toàn bộ trang web
    có thể bị gỡ bỏ mà không cần đến một phiên tòa.
  1004. Điều này thực sự quá quắt, ý tôi
    đây thực sự là một thảm họa.
  1005. Đạo luật này là một mối đe dọa quyền tự do ngôn luận
    và quyền công dân của tất cả người dùng internet.
  1006. Chỉ có một vài người trong chúng tôi nói
    “Chúng ta chẳng ưu gì vi phạm bản quyền
  1007. nhưng thật vô lý khi phá hủy
    cấu trúc của mạng internet
  1008. phá huỷ hệ thống tên miền và nhiều thứ tuyệt vời khác
    của internet trên danh nghĩa chống vi phạm bản quyền
  1009. và Aaron hiểu điều này rất rõ.
  1010. Sự tự do, được đảm bảo trong Hiến pháp sự tự
    do mà nước Mỹ đã xây dựng suốt bấy lâu nay
  1011. có thể đột nhiên bị xóa bỏ hoàn toàn.
  1012. Công nghệ mới, thay vì mang lại cho chúng ta sự tự
    do hơn có thể sẽ làm tiêu tan những quyền cơ bản
  1013. mà chúng ta lâu nay vốn
    không coi trọng chúng.
  1014. Và tôi nhận ra rằng ngày đó, khi nói chuyện
    với Peter tôi sẽ không để điều đó xảy ra.
  1015. Khi SOPA được đệ trình vào tháng 10 năm 2011
    nó gần như chắc chắn sẽ được thông qua.
  1016. Chiến thuật của chúng tôi, khi nó vừa được công
    bố là sẽ cố gắng làm chậm tiến trình xét duyệt
  1017. có thể làm nó yếu đi một chút
  1018. chúng tôi không nghĩ rằng mình
    có thể ngăn chặn được nó.
  1019. Nếu đã làm việc tại Washington,
    điều mà bạn học được
  1020. đó là những cuộc chiến pháp chỉ đơn thuần lý là
    những cuộc chiến về lợi ích của các tập đoàn.
  1021. Họ sẽ dùng mọi cách để vượt lên trên luật
    pháp và những cuộc chiến ở gay cấn nhất
  1022. là khi anh có một nhóm các tập đoàn chiến đấu
    với một nhóm các tập đoàn khác về mặt lợi ích
  1023. và khi cả hai bên đều đưa ra những chiến
    dịch hành lang và vận động ngang ngửa nhau.
  1024. Đó chính là những vụ gay cấn nhất.
  1025. Những vụ mà chẳng đáng
    được nhớ tên là những vụ
  1026. khi mà một bên là các tập đoàn giàu sụ
  1027. và một bên bao gồm chỉ vài triệu người.
  1028. Tôi chưa bao giờ thấy một cái gì như PIPA và SOPA
    trong suốt thời gian công tác phụng sự quốc gia.
  1029. Có tới hơn 40 Thượng nghị sĩ Mỹ đóng vai
    trò là người đồng bảo hộ
  1030. nên họ gần như đã đi rất rất xa để tới được
  1031. việc lấy 60 phiếu nhằm bỏ qua
    hết mọi thủ tục lằng nhằng.
  1032. Thậm chí tôi cũng lung lạc.
    Thực sự đó là khoảng thời gian khó khăn.
  1033. Swartz và Demand Progress đã thu được một sự ủng
    hộ khổng bằng cách làm vận động truyền thống
  1034. kết hợp với gọi điện qua mạng Internet để giúp
    mọi người dễ dàng lên tiếng tới Nghị viện.
  1035. Tôi chưa từng gặp ai ở khả năng như cậu ấy
  1036. cả về mặt công nghệ lẫn
    chiến thuật vận động.
  1037. Triệu người liên lạc tới Nghị viện và ký
    vào Kiến nghị Chống SOPA.
  1038. Nghị viện đã thực sự bất ngờ.
  1039. Theo dõi những thành viên của Nghị viện những
    người chả biết tí gì thảo luận về đạo luật này
  1040. nhìn họ kiên quyết rằng họ có
    thể điều hành được Internet
  1041. và một lũ nớt chẳng thể chặn họ.
  1042. Tôi chẳng phải nớt.
  1043. Tôi chẳng có tí nào là một nớt.
  1044. Có khi chúng ta nên hỏi mấy bạn nớt xem
    cái này có thể làm được gì.
  1045. Hãy nghe tỏ trình, hãy
    mang tới mấy bạn nớt.
  1046. Thật sao?
  1047. “Nớt”?
  1048. Tôi nghĩ từ mà anh đang tìm là “cao thủ”…
  1049. Để khai sáng cho anh nhằm giúp đạo luật của
    anh không phản tác dụng
  1050. và phá huỷ Internet.
  1051. Chúng tôi dùng từ “ghích” nhưng chúng
    tôi được phép dùng vì chúng tôi là ghích.
  1052. Việc đạo luật này đã tiến xa như thế mà những người
    làm luật không hề tham vấn các chuyên gia kỹ thuật
  1053. cho thấy có một vấn đề đang
    hiện hữu ở đất nước này.
  1054. Tôi đang tìm kiếm một ai đó đứng ra đây và khẳng
    định rằng “Đây là lý do tại sao luật này sai”.
  1055. Trước đây có một văn phòng đưa ra
    lời khuyên về khoa học và công nghệ
  1056. và các thành viên Nghị viện có thể tới và
    yêu cầu họ “Giúp tôi hiểu cái X, Y, Z này.
  1057. Và Gingrich đã chấm dứt nó. Ông
    ta nói rằng nó quá tốn kém.
  1058. Kể từ khi đó, Nghị viện đã
    bị ném trở lại thời tăm tối.
  1059. Tôi đoán là chẳng có ai tin là
    có thể thắng SOPA kể cả Aaron.
  1060. Đáng để thử nhưng khó mà thắng được
  1061. và tôi nhớ rằng vài tháng
    sau, anh ấy nói với tôi
  1062. “Anh nghĩ chúng ta có thể thắng."
  1063. Và tôi liền đáp “Thật tuyệt vời.”
  1064. Kiến nghị lên Nghị viên vẫn tiếp tục.
  1065. Khi trang web cung cấp dịch vụ tên miền
    và hosting GO Daddy ủng hộ đạo luật
  1066. hàng chục nghìn người dùng đã
    bỏ tên miền của họ để phản đối.
  1067. Trong một tuần, Go Daddy đã rút lại
    quan điểm của họ về SOPA.
  1068. Khi những Đại biểu trong Nghị viên, những người
    ủng hộ ngành công nghệp phim ảnh và âm nhạc
  1069. nhận ra rằng đang có một cuộc biểu tình
    họ đã làm giảm mức độ của đạo luật xuống.
  1070. Anh có thể thấy gió bắt đầu đổi chiều. Những
    luận điểm của chúng tôi bắt đầu cộng hưởng.
  1071. Nó giống như là Aaron
    bật diêm và bị thổi tắt
  1072. lại bật que diêm khác và bị thổi tắt tiếp
  1073. nhưng cuối cùng thì cậu
    ấy làm cho ngọn lửa bén
  1074. và bắt đầu bùng cháy dữ dội.
  1075. Vào 16 tháng 1 năm 2012,
    Nhà Trắng đã tuyên bố
  1076. rằng họ không ủng hộ đạo luật này.
  1077. Và rồi điều này xảy ra:
  1078. Tôi tin rằng chúng ta cần phải
    đối phó với nạn tác quyền
  1079. và chúng ta cần phải làm một cách nghiêm túc nhưng
    đạo luật này thì không phải là thứ chúng ta cần.
  1080. Jimmy Wales tuyên bố sự ủng hộ của anh ấy
    bằng cách làm Wikipedia tối đen
  1081. trang web phổ biến thứ 5 trên thế giới này
  1082. một trang web với 7% lượng click
    ở mọi nơi trên toàn Internet.
  1083. Wikipedia tối thui.
  1084. Reddit tối thui.
  1085. Craigslist tối thui.
  1086. Điện thoại trong điện
    Capitol reo chuông hối hả.
  1087. Các Đại biểu Nghị viện bắt đầu vội vàng
    tuyên bố không ủng hộ đạo luật này nữa
  1088. một đạo luật mà chỉ vài
    ngày trước họ còn ủng hộ.
  1089. Trong vòng 24 tiếng, tình hình ủng hộ và
    phản đối SOPA trong Nghị viện thay đổi từ
  1090. từ thế này…
  1091. thành thế này.
  1092. Nhìn các Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ từ
    từ chuyển phe trong ngày Đen mạng Internet
  1093. thực sự rất kinh ngạc.
  1094. Phải có tới một trăm thay
    đổi chỉ trong ngày hôm đó.
  1095. Và đó là lúc mà, thậm chí tôi
    cũng không dám tin, cuối cùng
  1096. thì chúng ta đã thắng.
  1097. Cái điều mà mọi người nói là không thể
  1098. điều mà các công ty lớn nhất
    thế giới cho là không tưởng
  1099. đã xảy ra.
  1100. Chúng ta đã làm được.
  1101. Chúng ta đã thắng.
  1102. Đây là một tuần lễ lịch sử trong chính trị
    Interent có thể thậm chí là chính trị Hoa Kỳ.
  1103. Chúng tôi nghe thấy những người ở Washington
    DC, từ nhân viên của Điện Capitol rằng:
  1104. họ nhận được nhiều email và nhiều điện
    thoại trong ngày Đen Internet chống SOPA
  1105. hơn bất cứ một vấn đề nào khác.
  1106. Tôi nghĩ rằng đó là một
    thời điểm rất thú vị.
  1107. Đây là thời điểm khi mạng Internet
    đã lớn mạnh về mặt chính trị
  1108. Thực sự rất phấn khích vì khó
    mà tin được là nó đã xảy ra.
  1109. Khó tin được một đạo luật được
    hỗ trợ bởi rất nhiều tiền
  1110. đã không thể vượt qua
    được cửa ải Nghị viện.
  1111. Không chỉ không qua được Nghị viện mà nó
    chẳng đạt được bất cứ một điều khoản nào.
  1112. Dễ dàng cảm thấy mình bất lực
  1113. khi bạn ra đường và tuần hành và
    bạn thét lên nhưng không ai lắng nghe.
  1114. Nhưng tôi ở đây để nói với bạn rằng
    hôm nay bạn rất mạnh mẽ.
  1115. Cho nên, đôi khi bạn cảm thấy bạn không được lắng nghe nhưng
    tôi ở đây để nói cho bạn rằng bạn đang được lắng nghe.
  1116. Bạn đang được lắng nghe. Bạn
    đang tạo nên sự khác biệt.
  1117. Bạn có thể dừng đạo luật này
    nếu bạn không ngừng chiến đấu.
  1118. Dừng PIPA.
  1119. Dừng SOPA.
  1120. Một vài công ty lớn nhất trên mạng
    Internet, thành thật mà nói, sẽ được lợi
  1121. từ một thế giới mà trong đó những đối thủ
    nhỏ bé của họ bị cấm chặn.
  1122. Chúng ta không thể để điều đó xảy ra.
  1123. Đối với anh ấy, điều quan trọng hơn
    đó là bạn làm được những thay đổi nhỏ
  1124. hơn là chỉ đóng một vai trò
    nhỏ trong một thay đổi lớn.
  1125. Nhưng SOPA thì đóng một vai trò
    lớn trong một thay đổi lớn
  1126. nên đối với anh ấy, đây là
    một bằng chứng về lý tưởng
  1127. rằng “Điều tôi muốn làm với cuộc
    đời tôi là thay đổi thế giới.”
  1128. “Tôi nghĩ về điều này theo phương pháp khoa học
    và có thể đo đạc được những ảnh hưởng của tôi
  1129. và điều này cho thấy điều đó là có thể.”
  1130. “Điều tôi muốn làm với
    cuộc đời tôi là có thể.”
  1131. “Tôi đã chứng minh được là tôi có thể
  1132. rằng tôi, Aaron Swartz có
    thể thay đổi thế giới.”
  1133. Đối với một anh chàng luôn nghĩ rằng
    mình chưa làm được gì nhiều như Aaron
  1134. đây là một trong số những khoảnh khắc
    ngắn ngủi mà bạn có thể thấy rằng
  1135. anh ấy cảm thấy anh ấy đã
    làm được điều gì đó tốt
  1136. cảm thấy rằng đây là chiến
    thắng duy nhất của anh ấy vậy.
  1137. Mọi người nói rằng không
    thể chặn được SOPA.
  1138. Chúng tôi đã chặn đứng nó.
  1139. Đây là ba chiến thắng vang dội và
    năm 2012 vẫn còn chưa kết thúc
  1140. Ý tôi là nếu có một thời điểm nào đó
    để lạc quan thì đây chính là lúc đó.
  1141. Anh biết đó, cậu ấy thắng
    SOPA sau khi bị bắt 1 năm.
  1142. Đó không phải là những khoảnh khắc hạnh
    phúc trọn vẹn. Nhiều thứ vẫn còn rối bời.
  1143. Cậu ấy bị cuốn hút vào các hoạt động chính
    trị và anh không thể cản cậu ấy được.
  1144. Danh sách mà Swartz thành lập
    và đồng thành lập là khổng lồ
  1145. và nhiều năm trước khi Edward Snowden tiết
    lộ những hành vi theo dõi trên mạng Internet
  1146. Swartz đã biết về điều đó.
  1147. Thật sự sốc khi biết rằng
  1148. họ chẳng hề có một thống kê đơn giản cho
    biết độ lớn của chương trình gián điệp.
  1149. Và nếu câu trả lời là: “À, chúng tôi do thám nhiều
    người quá nền chúng tôi không thể đếm được.”
  1150. thì thực sự quả thật là nhiều người.
  1151. Sẽ yên tâm nếu họ nói: “Chúng tôi biết số
    lượng điện thoại mà chúng tôi đang theo dõi
  1152. nhưng chúng tôi không biết bao nhiều người
    thực sự tương đương với số điện thoại đó.”
  1153. nhưng họ chỉ phán ra một câu:
    “Chúng tôi không thể tiết lộ số con số.”
  1154. Điều đó quả đáng sợ.
  1155. Và họ tạo ra cho anh rất nhiều áp lực.
    Lấy hết tiền mà cậu ấy đã kiếm được.
  1156. Họ đã cảnh báo sẽ lấy đi sự
    tự do thân thể của cậu ấy.
  1157. Tại sao họ lại làm như thế? Ý tôi là tại sao lại tấn
    công một người nói ra những sự tham nhũng, sai trái?
  1158. Tại sao lại phải tấn công
    những người nói thật
  1159. về những thứ như ngân hàng
    chiến tranh hay sự minh bạch của chính phủ.
  1160. Bí mật phục vụ cho những kẻ nắm quyền lực
  1161. và chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên bí mật
    mà cùng lúc đó chính phủ đang thực hiện nhiều
  1162. hành vi phạm pháp và vi phạm Hiến Pháp.
  1163. Hai thứ này không hề ngẫu nhiên.
  1164. Và rõ ràng là công nghệ đã phát triển
  1165. không phải dành cho các quốc gia đang phát triển, mà
    chính cho nơi đây, được sử dụng bởi chính quyền Hoa Kỳ.
  1166. Vấn đề với chương trình gián điệp đó là
    nó là một sự tiến triển chậm chạp
  1167. từ thời Nixon
  1168. rõ ràng là sau vụ 11 tháng 9
    nó trở nên khổng lồ bởi Bush
  1169. và Obama tiếp tục phát triển và
    vấn đề đó là nó ngày càng tệ hơn
  1170. nhưng chưa hề có ai đứng lên và nói:
  1171. “Chúng ta cần phải đứng lên chống lại hôm nay vì
    hôm nay chính là lúc cần phải giải quyết nó…”
  1172. Sự khởi tố, theo phán đoán của tôi về trường hợp
    của Aaron đó là gửi ra một thông điệp đe doạ
  1173. tới những nhóm người mà
    Nội các của Obama xem như là mối đe doạ
  1174. và đó chính là những hacker những cộng
    đồng hoạt động dân chủ và thông tin
  1175. và thông điệp mà Obama muốn
    gửi cho cộng động này đó là
  1176. theo phán đoán của tôi: “Bọn tao biết chúng
    mày có khả năng gây rắc rối đối với hệ thống
  1177. nên chúng tao sẽ đưa ra một ví
    dụ răn đe bằng Aaron Swartz
  1178. để cho chúng mày sợ hãi mà
    không dám gây thêm chuyện.”
  1179. Và chính phủ nói: “Lý do mà bọn tao dùng để
  1180. hợp pháp hoá chương trình
    gián điệp là tuyệt mật
  1181. nên chúng tao không thể nói cho chúng mày biết đạo
    luật nào chúng ta đang dùng để giám sát chúng mày.”
  1182. Các bạn biết đó, lúc nào họ cũng có thể nói
    “Lại một vụ chiến tranh mạng nữa.”
  1183. Các tội phạm mạng lại tấn công chúng ta. Tất cả
    chúng ta đang bị nguy hiểm. Chúng ta bị đe doạ.”
  1184. Họ sử dụng những điều này như cái cớ để
    tạo ra những đạo luật nguy hiểm hơn.
  1185. [Phỏng vấn viên] Theo anh thì
    cuộc chiến hiện nay như thế nào?
  1186. Điều này phụ thuộc vào bạn!
  1187. Anh biết đó, chúng ta sống trong
    một thế giới lưỡng cực, đúng không
  1188. tất cả mọi thứ đều tuyệt, mạng Internet
    đã tạo ra tất cả những thứ tự do tuyệt vời
  1189. hoặc tất cả đều tệ hại
  1190. mạng Internet đã tạo ra tất cả những
    công cụ nhằm phá hoại và giám sát
  1191. và điều khiển những gì chúng ta nói.
  1192. Và vấn đề là cả hai đều đúng, phải không?
  1193. Internet có cả hai, và cả hai đều tuyệt vời
  1194. và cái gì thắng về lâu về dài
    hoàn toàn phụ thuộc vào chúng ta.
  1195. Chẳng có nghĩa gì khi nói: “Ồ, cái này tốt
    hơn cái kia.” Anh biết đó, cả hai đều đúng.
  1196. Chúng ta là người quyết định xem chúng ta cần
    tập trung vào phần nào và tận dụng phần nào
  1197. vì cả hai đều tồn tại, chúng
    sẽ luôn luôn song hành.
  1198. Vào ngày 12 tháng 9 năm 2012, Uỷ viên công tố bang
    đã gán thêm những tội danh mới đối với Swartz
  1199. các tội wire fraud, xâm nhập máy
    tính trái phép, computer fraud.
  1200. Giờ, thay vì bốn tội danh,
    Swartz phải đối mặt với 13.
  1201. Việc khởi tố ngày càng trở nên có khả dĩ
  1202. và khả năng ngồi tù và nộp phạt
    của Swarzt cũng tăng theo.
  1203. Họ nộp thêm các bản cáo trạng
    mới với nhiều tội danh mới
  1204. và họ có một lý thuyết tại sao lại cần tới
    nhiều tội danh cấp độ liên bang ở đây
  1205. và một bản án nghiêm trọng có
    thể được thi hành theo pháp luật.
  1206. Lý thuyết đó, và phần lớn các tội
    danh trong vụ khởi tố Swartz
  1207. liên quan tới một bộ luật
    có nguồn gốc từ năm 1986
  1208. Nó được gọi là: “Luật chống tội
    phạm vi tính và lạm dụng”.
  1209. Luật chống tội phạm vi tính và lạm dụng
  1210. được lấy cảm hứng từ trò chơi “War Games”
    với Matthew Broderick một bộ phim rất hay.
  1211. [Broderick] Tao chiếm được mày rồi.
  1212. Trong bộ phim này, một cậu bé
    bằng phép thuật với mạng máy tính
  1213. đã khởi động tên lửa hạt nhân.
  1214. [Tiếng tên lửa]
  1215. Bạn biết đấy, thực ra điều này không thể xảy
    ra và nó càng không khả thi hồi những năm 80
  1216. tuy vậy bộ phim này đã
    làm Nghị viện sợ đến mức
  1217. phải thông qua Luật chống tội
    phạm vi tính và lạm dụng.
  1218. Đây là một đạo luật lỗi
    thời, ví dụ, nó xử phạt
  1219. những thoả thuận về điều khoản sử dụng.
    Bạn có những trang web như
  1220. eHarmony hay Match.com, và nếu ai đó tự
    thổi phồng giá trị bản thân của mình lên
  1221. rồi đùng một cái, tuỳ vào
    quyền tài phán và công tố
  1222. họ có thể vướng vào một đống rắc rối.
  1223. Chúng ta đều biết "Điều
    khoản sử dụng" là gì.
  1224. Đa số mọi người đều không đọc nó, nhưng không
    tuân theo những điều khoản này cũng có nghĩa
  1225. là bạn đang phạm một trọng tội.
  1226. Điều khoản sử dụng của một
    trang web thường ghi rằng:
  1227. "Hãy đối tốt với mọi người",
    hay "Đừng làm gì khiếm nhã".
  1228. Việc Luật tố tụng hình sự
    đếm xỉa tới mấy cái trò này
  1229. theo tôi, đa số đều cho
    rằng nó thật điên rồ.
  1230. Những ví dụ sau còn "điên rồ" hơn nữa:
  1231. Cho tới khi được thay đổi vào Tháng Ba 2013, Điều
    khoản sử dụng trang web của tạp chí Hearst' Seventeen
  1232. nói rằng bạn phải tối
    thiểu 18 tuổi để đọc nó.
  1233. Tôi muốn nói rằng nếu chiểu theo
    cách Bộ Tư pháp áp dụng CFAA
  1234. có lẽ ai trong chúng ta cũng đều phạm pháp.
  1235. Mơ hồ và dễ bị hiểu sai CFAA đã biến
    thành một công cụ dùng chung cho
  1236. rất nhiều những tranh cãi
    liên quan đến máy tính.
  1237. Mặc dù đây không phải là yếu tố
    duy nhất ảnh hưởng đến vụ kiện này
  1238. 11 trên 13 cáo buộc về Swartz có liên quan
    đến Luật chống tội phạm Vi tính và lạm dụng
  1239. Câu hỏi "Tại sao?" bao trùm toàn bộ
    câu truyện về Aaron Swartz.
  1240. Điều gì tạo động lực cho chính phủ
    và họ muốn gì qua vụ kiện này?
  1241. Bộ Tư pháp đã tữ chối trả
    lời những câu hỏi này,
  1242. nhưng theo Giáo sư Orin Kerr - một cựu
    công tố viên từng nghiên cứu vụ án này.
  1243. Tôi theo đuổi vụ này theo một
    hướng khác vì một vài lí do:
  1244. Tôi là một công tố viên liên
    bang của Bộ Tư pháp trong 3 năm
  1245. trước khi tôi bắt đầu giảng dạy.
    Chính phủ đã đưa ra
  1246. bản cáo trạng dựa trên những tội danh
    mà chính phủ nghĩ bị cáo phạm phải
  1247. dựa trên lăng kính của một luật sư
    xem xét những tiền lệ, đối chiếu với luật
  1248. tham khảo lịch sử, những vụ án tương tự
  1249. Tôi nghĩ xét theo hướng đó thì
    đây là một cáo trạng hợp lý.
  1250. Bạn có thể bàn luận về việc họ
    có nên buộc tội trong vụ này không.
  1251. Có rất nhiều tranh cãi xung quanh vụ kiện. Một
    số đứng về phe Truy cập Mở, một số thì không.
  1252. Tôi nghĩ chính phủ coi "Tuyên ngôn
    Truy cập Mở" của Swartz rất nghiêm túc
  1253. và tôi nghĩ họ nhìn nhận anh ta phạm pháp
    với một động cơ về đạo đức
  1254. để vượt qua một đạo luật mà
    Swartz thấy không công bằng
  1255. và trong một nền dân chủ, nếu bạn nghĩ một đạo luật không
    công bằng thì có nhiều cách để thay đổi đạo luật đó.
  1256. Có thể thông qua Quốc hội như
    cách Swartz đã từng làm với đạo luật SOPA
  1257. hoặc bạn có thể chủ ý phạm luật
    để vô hiệu hoá điều luật đó
  1258. và tôi nghĩ điều làm các công tố viên
    cảm thấy Swartz đã phạm pháp
  1259. Rằng mọi người có thể truy cập
    vào cơ sở dữ liệu theo cách
  1260. “gạo đã nấu thành cơm,
    tên đã bắn ra khỏi nỏ”
  1261. Mọi chuyện có thể xảy ra như thế,
    Swartz đã có thể chiến thằng
  1262. Có nhiều bất đồng trong xã hội xung
    quanh tính công bằng của điều luật này
  1263. và cuối cùng, đây là quyết định của người
    dân Hoa Kì, được thông qua bởi Quốc hội.
  1264. Vấn đề thứ hai, theo tôi
    là chúng ta vẫn đang tìm cách phân định
  1265. ranh giới giữa những tội nghiêm
    trọng và ít nghiêm trọng hơn.
  1266. Chúng ta đang ở trong kỉ nguyên của
    máy tính và sự lạm dụng máy tính
  1267. và vẫn chưa biết rõ ràng
    những ranh giới này là gì
  1268. bởi chúng ta mới đang bắt
    đầu giải quyết vấn đề đó.
  1269. Đây là một cách sử dụng
    quyền truy tố thật kém cỏi.
  1270. Cái búa mà Bộ Tư pháp
    dùng để đe doạ dân chúng
  1271. càng ngày càng to
  1272. và đại đa số dân chúng, bạn biết đấy, không thể
    chơi trò may rủi với mạng sống của họ như thế được.
  1273. Chúng ta có nên nghe lén điện thoại
    của ai đó? Quay phim trộm ai đó?
  1274. Liệu ta có nên bắt ai làm
    chứng chống lại người khác?
  1275. Đó là điều mà các công tố viên
    và nhân viên liên bang tính toán.
  1276. Họ tạo dựng một vụ kiện. Họ hợp lí hoá nó.
  1277. Swartz mắc kẹt giữa những guồng quay không thể đảo
    ngược của một hệ thống tư pháp hình sự tàn bạo
  1278. một cỗ máy làm cho nước Mỹ thành nơi
    có tỉ lệ bỏ tù nhiều nhất thế giới.
  1279. Chúng ta đã tự cho phép bản thân bị cuốn vào
    trò chính trị của sự sợ hại và nỗi tức giận
  1280. và bất cứ điều gì làm chúng ta lo lắng ví như
    tương lai của internet và quyền truy cập
  1281. và bất cứ điều gì khác chọc giận ta, một cách rất
    tự nhiên tạo nên sự can thiệp của luật hình sự
  1282. và chúng ta sử dụng nhà giam và các hình thức
    trừng phạt khác để giải quyết một đống các vấn đề
  1283. mà từ trước tới nay chưa bao giờ
    được coi là các vấn đề hình sự.
  1284. Thôi thúc đe doạ, truy tố, một phần nào đó
  1285. đã tạo nên những tranh luận về quyền truy cập
    trực tuyến và thông tin trên mạng internet
  1286. rất thống nhất với những gì ta
    chứng kiến ở các lĩnh vực khác.
  1287. Điểm khác biệt ở chỗ những nạn nhân
  1288. của việc truy tố và định tội thông
    thường là người nghèo và thiểu số.
  1289. Swartz ngày càng bị cô lập
    khỏi gia đình và bạn bè.
  1290. Anh ấy hầu như ngừng tất
    cả các công việc khác lại
  1291. và vụ kiện thực ra đã bao phủ lấy
    toàn bộ đời sống của anh ấy.
  1292. Một luật sư của Aaron đã từng nói với công tố viên rằng
    tại thời điểm đó cậu ấy rất dễ bị tổn thương về cảm xúc
  1293. và đó là điều họ nên ghi nhớ.
  1294. Vụ kiện đè nặng lên vai nó.
  1295. Nó không muốn nhất cử nhất động
    của mình bị gò bó bất kể như thế nào
  1296. và mối lo bị bỏ tù, điều các
    công tố viên luôn đe doạ nó
  1297. làm nó rất hoảng sợ.
  1298. Nó bị cạn kiệt tài chính
  1299. và chúng tôi mất rất nhiều tiền và nó đã
    quyên góp được một lượng tiền đáng kể
  1300. tầm cỡ vài triệu đô la.
  1301. [Phóng viên] Việc bào chữa?
    - Đúng.
  1302. - Tốn hàng triệu đô phải không?
    - Đúng thế.
  1303. Tôi nghĩ anh ấy không muốn trở
    thành gánh nặng cho mọi người
  1304. Theo tôi yếu tố này có thể được diễn tả như
    sau "Tôi đang có một cuộc sống bình thường,
  1305. rồi tôi phải giải quyết với đống cứt này
  1306. tôi muốn giữ cho hai việc này
    càng không liên quan đến nhau càng tốt
  1307. nhưng ranh giới giữa hai việc này càng ngày
    càng mờ và tất cả đều trở thânh một đống cứt."
  1308. Swartz phải đổi diện với
    một sự lựa chọn khó khăn:
  1309. Liệu ta có nên nhận tội rồi sống tiếp,
  1310. hay ta cố chống lại một hệ thống thối nát?
  1311. Trong trường hợp này, câu
    trả lời thật đơn giản
  1312. Anh ta từ chối thoả hiệp
    và đợi ngày ra hầu toà.
  1313. Aaron kiên quyết rằng cậu ấy
    không bị khuất phục và chấp nhận điều
  1314. mà cậu ấy tin là không công bằng
    nhưng tôi nghĩ cậu ấy cũng lo sợ chẳng kém.
  1315. Tôi không nghĩ rằng họ sẽ định tội Aaron.
  1316. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ đưa anh ta ra khỏi
    toà án và rồi tôi sẽ ôm anh ta thật chặt
  1317. rồi chúng tôi cùng nhau đi dạo bên dòng
    sông ở Boston và thưởng thức vài chai bia.
  1318. Tôi thực sự nghĩ rằng chúng tôi là bên đúng. Tôi
    đã nghĩ rằng chúng tôi sẽ thắng vụ kiện này.
  1319. Tôi đã nghĩ rằng chúng tôi
    đã có thể thắng vụ kiện này.
  1320. Nó không nói nhiều, nhưng bạn có thể thấy
  1321. nó đang phải trải qua một
    nỗi đau lớn như thế nào.
  1322. [bài hát]
  1323. Khi còn bé Aaron chưa bao
    giờ có vấn đề về tâm lí
  1324. hay trầm cảm nào tôi có thể miêu
    tả là "trầm cảm nghiêm trọng"
  1325. và điều đó có thể xảy ra, bạn biết đấy, anh ấy
    bị trầm cảm. Con người ai chẳng bị trầm cảm.
  1326. [nhạc]
  1327. Hồi chúng tôi mới yêu nhau,
    lúc mới 3 hay 4 tuần đầu thôi
  1328. tôi nhớ anh ấy nói với mình rằng
  1329. em mạnh mẽ hơn anh nhiều đấy.
  1330. Bạn biết đấy, anh ấy là người rất nhạy cảm.
  1331. Anh ấy tiếp nhận mọi việc
    khó khăn hơn người thường.
  1332. Nhưng đó cũng là một phần làm
    cho anh ấy trở nên xuất chúng.
  1333. Tôi nghĩ anh ấy đã từng bị chẩn
    đoán trầm cảm hồi 20 tuổi.
  1334. Tôi không nghĩ rằng anh ấy còn
    như thế khi chúng tôi bên nhau.
  1335. Anh ấy không phải là một người luôn vui vẻ
    nhưng điều đó khác hẳn với trầm cảm.
  1336. Chỉ là anh phải chịu một áp lực
    khủng khiệp trong hai năm liền.
  1337. Anh ấy quyết định không muốn tiếp tục nữa.
  1338. Anh ấy chỉ... Tôi nghĩ nó
    quá sức chịu đựng của anh.
  1339. [bài hát]
  1340. Đêm qua có người gọi cho tôi.
  1341. Tôi cảm nhận điều gì đó không ổn, rồi tôi gọi
    điện và biết được được điều gì đang diễn ra.
  1342. Người đồng sáng lập của mạng thông tin và
    giải trí xã hội "Reddit" đã vừa qua đời.
  1343. Cảnh sát nói Aaron Swartz, 26 tuổi
  1344. đã tự từ hôm qua trong căn
    hộ của mình ở Brooklyn.
  1345. Tôi nghĩ, chúng ta vừa mất đi một trong
    những bộ óc sáng tạo nhất của thời đại này.
  1346. Cả thế giới với tôi như đổ sập.
  1347. Đấy là một trong những đêm
    khó khăn nhất đời tôi.
  1348. Tôi chỉ biết kêu gào, "Tôi không nghe rõ!
    Anh nói gì? Tôi không nghe rõ!"
  1349. Tôi không thể. Vậy đấy.
  1350. [Phóng viên] Tôi hiểu.
  1351. Tôi không hiểu tại sao
  1352. và đến bây giờ tôi vẫn không hiểu.
  1353. Tôi thất vọng và bực tức.
  1354. [thở dài]
  1355. Bạn biết đấy, tôi cố giải thích với lũ trẻ.
  1356. Đứa con ba tuổi nói với tôi rằng
    bác sĩ sẽ chữa lành cho anh ấy.
  1357. Tôi đã từng mất đi rất nhiều người nhưng
    tôi chưa từng mất ai giống như thế này,
  1358. bởi mọi người cảm thấy, và tôi
    cũng thế, rằng có quá nhiều thứ
  1359. Tôi không biết cậu ấy đã như thế. Tôi không biết
    rằng đây là điều mà cậu ấy phải chịu đựng và...
  1360. Cậu ấy là một phần trong tôi.
  1361. Và tôi không muốn chuyện
    ấy là sự thực, và rồi...
  1362. và rồi tôi nhìn vào trang Wikipedia
    của cậu ấy và thấy ngày mất:
  1363. "2013"
  1364. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là:
    nếu không ai để ý thì sao?
  1365. Bạn biết đấy, bởi tôi không thấy được
    rõ rằng cậu ấy quan trọng như thế nào
  1366. Tôi chưa bao giờ thấy một
    sự tiếc thương lớn đến thế.
  1367. Mạng Internet đã bùng cháy.
  1368. Mọi người cố gắng giải thích nó theo cách
    của mình nhưng tôi chưa bao giờ thấy
  1369. sự tiếc thương lớn như vậy trên Twitter.
  1370. Có thể thấy rõ niềm thương tiếc
    trên mạng lớn như thế nào.
  1371. Cậu ấy là đứa con của thế giới Internet
  1372. và thê giới cũ đã giết chết cậu ấy.
  1373. Chúng ta đang ở giai đoạn mà sự
    bất công không được giải quyết.
  1374. Những kiến trúc sư của cuộc khủng hoảng tài chính
    thì thường xuyên ngồi ăn tối với tổng thống.
  1375. Vào thời điểm đó, việc chính
    phủ đi truy tố vụ án này
  1376. thật quá vô lý, thậm chí là bi kịch.
  1377. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta có thể
    làm gì sau những gì vừa xảy ra
  1378. để thế giới tốt đẹp hơn
  1379. và chúng ta tiếp nối di sản ấy như thế nào?
  1380. Đó là câu hỏi duy nhất mà ta có thể hỏi.
  1381. Khắp thế giới, bắt đầu có những cuộc
    thi hack-a-thons, những buổi họp mặt
  1382. Aaron Swartz đã, theo một cách nào đó, khơi gợi những
    điều tốt đẹp nhất trong chúng ta, bằng cách nói rằng:
  1383. Chúng ta có thể sửa nó như thế nào?
  1384. Theo tôi, anh ấy thực sự là một
    trong những nhà cải cách vĩ đại
  1385. mà đất nước này đã sản sinh ra.
  1386. Tôi không biết Aarron đã
    chiến thắng hay thất bại,
  1387. nhưng chắc chắn rằng chúng ta được định
    hình bởi những gì mà Aaron đã chống lại.
  1388. Khi ta biến những người thực thi pháp luật đe doạ chính
    những công dân đang cố gắng thu thập thêm thông tin
  1389. thì chúng ta đã phạm luật... chúng ta
    đã xâm phạm tới ngôi đền của công lý.
  1390. Aaron Swartz không phải là một tội phạm.
  1391. [tiếng vỗ tay]
  1392. Thay đổi không tự nhiên mà xảy đến,
  1393. nó có được nhờ sự đấu tranh không ngừng.
  1394. Aaron có thể tạo nên những điều không tưởng
  1395. và tôi sẽ không để những điều anh ấy
    làm được dừng lại với sự ra đi của anh ấy.
  1396. Anh ấy tin rằng mình có thể
    thay đổi thế giới, và anh đã đúng.
  1397. Kể từ tuần trước, kể từ hôm nay
    những con phượng hoàng đã trỗi dậy.
  1398. [tiếng vỗ tay]
  1399. Từ cái chết của Swartz, Đại biểu
    Zoe Lofgren và Thượng nghĩ sĩ Ron Wyden
  1400. đã giới thiệu những pháp chế nhằm cải
    cách Luật chống tội phạm vi tính và
    lạm dụng
  1401. một đạo luật lỗi thời được
    dùng để gán tội cho Swartz.
  1402. Nó được gọi là "Đạo luật Aaron"
  1403. Aaron tin rằng bạn phải
    luôn tự vấn bản thân rằng:
  1404. Điều gì quan trọng nhấy mà tôi
    có thể làm cho thế giới ngay lúc này?
  1405. Và nếu bận không đang thực
    hiện điều đấy, tại sao vậy?
  1406. [Người biểu tình] Đây là dân chủ!
  1407. [đám đông hò reo] Chúng tôi cũng là người!
  1408. Tự do Mạng bị tấn công,
    chúng ta phải làm gì?
  1409. Đứng lên và phản kháng!
  1410. Tự do Mạng bị tấn công,
    chúng ta phải làm gì?
  1411. Hey, hey! Ho, ho! NROC phải ra đi!
  1412. Tôi ước gì ta có thể thay đổi
    quá khứ, nhưng ta không thể.
  1413. Nhưng chúng ta có thể thay đổi
    tương lai và chúng ta phải làm điều đó.
  1414. Phải làm để thế giới này
    tốt đẹp hơn, nhân đạo hơn
  1415. đó là nơi mà công lý được thực thi quyền truy
    cập kiến thức là quyền con người cơ bản.
  1416. Có một đứa trẻ này, hồi Tháng
    hai ở Baltimore, nó 14 tuổi
  1417. có quyền truy cập JSTOR, và nó tìm hiểu nhiều
    tại liệu trên JSTOR sau khi đọc vài điều
  1418. rồi nó tìm ra một cách để phát
    hiện sớm ung thư tuyến tuỵ.
  1419. Ung thư tuyến tuỵ rất đáng sợ bởi
    khi phát hiện ra nó thì đã quá muộn
  1420. để cứu chữa.
  1421. Rồi nó gửi thư điện tử cho toàn bộ khoa
    điều trị ung thư ở đại học Johns Hopkins
  1422. bạn biết đấy gửi cho hàng trăm người, và mỗi...
    [Phóng viên] Ông nói rằng đó là một đứa trẻ 14 tuổi?
  1423. Một đứa trẻ 14 tuổi, đúng thế, và đa số đều tảng
    lờ thư của cậu bé nhưng một người đã hồi âm
  1424. nói rằng đây không hoàn toàn là ý tưởng ngu
    ngốc sao cậu nhóc không qua đây bàn bạc nhỉ?
  1425. Cậu bé làm việc ngày và đêm với những nhà nghiên
    cứu và hồi Tháng hai tôi bắt gặp cậu trên bản tin
  1426. chỉ vài tuần sau khi Aaron qua đời khi
    mà tin về Aaron vẫn còn đang tràn ngập..
  1427. Xin lỗi...
  1428. và cậu nói lý do mình lên bản tin là bởi họ
    đã thành công. Họ bắt đầu đưa vào
  1429. thử nghiệm một phương pháp phát hiện sớm ung thư
    tuyến tuỵ và có thể cứu sống rất nhiều bệnh nhân
  1430. và cậu bảo rằng, "Đây là lí do vì sao những
    việc Aaron làm là rất quan trọng."
  1431. Bởi bạn không bao giờ biết được, đúng không?
    Sự thực về vũ trụ không chỉ là những thứ
  1432. mà những người làm chính sách tìm ra
    tỉ như vận tốc giới hạn là bao nhiêu.
  1433. Đó là thứ giúp con bạn sống sót
    khỏi bệnh ung thư tuyến tuỵ
  1434. và nếu không có truy cập
    người sáng tạo ra những thứ giúp được bạn
  1435. có thể chẳng bao giờ có
    thể làm nên những thứ đó.
  1436. Nó ngủ ngon quá, nó không bị ngã khỏi [tiếng
    trẻ con] kể cả khi nó mơ ngồi trên phi thuyền.
  1437. [Bố Aaron] Tốt lắm, Aaron.
    Rất tốt. Yay, Aaron!
  1438. Ok, bây giờ đến lúc hát rồi.
  1439. ♪ ♪ ♪
  1440. [Hết]